- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con — án hôn nhân và gia đình — "Trần N- Đỗ Thị Th"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần N về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với bị đơn bà Đỗ Thị T
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:52/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2022 V/v: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Bích Nhung và ông Trần Minh An Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 125/2022/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2022 về việc tranh chấp yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần N – sinh năm: 1984. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn MP, xã TH, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị T – sinh năm: 1992. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn KN, xã NH, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nhận ngày 10/5/2022.và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn ông Trần N trình bày: Ông và bà Đỗ Thị T trước đây là vợ chồng hợp pháp và có 03 con chung nhưng đã thuận tình ly hôn và thỏa thuận về việc nuôi con chung theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 151/2020/QĐST-HNGĐ ngày 21/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải. Theo đó, ông được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Trần Đỗ Kiều M – sinh ngày: 27/3/2011 và cháu Trần Đỗ Chí H – sinh ngày: 11/11/2014, bà Tđược trực tiếp nuôi con tên Trần Đỗ Chí T – sinh ngày: 17/8/2017 vì cháu T còn nhỏ, ông thường đi biển ở lại đêm nên không chăm sóc cháu tốt được. Sau khi ly hôn phía ông vẫn tạo điều kiện cho bà T thăm cháu M và cháu H nhưng bà T lại không cho ông thăm cháu T. Ông có đến nơi bà T ở (thôn KN– xã NH) để thăm con thì bà Tkhông cho thăm còn kêu người đánh. Ngoài ra người đang chung sống với bà T là ông Tr còn đến nhà ông ở Mỹ Phong – Thanh Hải kêu cửa vào ban đêm khi ông không có nhà nhưng con ông la lên thì ông Tr bỏ chạy. Ông nghi ngờ ông Tr có ý đồ hiếp dâm con gái và có ý định trộm cắp tài sản của gia đình ông. Ông đã nói chuyện với bà T nhưng bà T bênh vực ông Tr chứ không lo cho các con.Việc bà T không cho ông thăm cháu T có cháu M, cháu H làm chứng. Bà T cũng chặn cuộc gọi nên ông không nói chuyện được với bà T. Ông thấy bà T chung sống với ông Tr là thành phần xã hội đen chuyên cho vay nặng lãi và cờ bạc nên sẽ ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng cháu Tài; bà Thoa hiện nay không có chỗ ở và nghề nghiệp ổn định; nhiều lần ông nghe nói ông Trung đánh cháu Tài nhưng do ông Tr đe dọa nên không ai dám đứng ra làm chứng cho ông. Sự việc ông Tr đánh cháu T, lén đến nhà ông lúc nửa đêm ông đã báo công an huyện N nhưng khi giải quyết công an huyện N lại cho rằng ông Tr không vi phạm gì. Thu nhập của ông N hiện nay từ nghề làm biển, có khi được 10-15 triệu đồng/tháng có tháng sẽ ít hơn nhưng trung bình là 10.000.000đ/tháng. Vì những lý do trên ông yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi cháu Trần Đỗ Chí T – sinh ngày: 17/8/2017 từ bà Đỗ Thị T sang ông và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn bà Đỗ Thị Thoa trình bày: Bà đồng ý trình bày của ông N về việc vợ chồng đã thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi về nuôi con chung. Từ khi ly hôn năm 2020 đến nay ông N không tạo điều kiện cho bà thăm cháu M, cháu H. Mỗi lần bà muốn gặp con phải lén gặp ở nhà mẹ ông N, sau khi mẹ ông N chết thì bà vẫn lén gặp các con khi ông N đi biển. Dù không trực tiếp nuôi con nhưng bà vẫn thường xuyên qua lại để thăm các con, lo cho các con tiền học và những thứ cần thiết. Phần ông N thì không thăm nom cháu T đàng hoàng cũng không cấp dưỡng. Trước đây mỗi lần ông Nmuốn gặp con thì bà chở cháu Tài về Thanh Hải cho ông N thăm con. Sau này ông N không kêu chở nữa thì bà không chở. Ông N đòi thăm con khi đã nhậu say và đến gặp bà để gây gổ nên bà không dám cho gặp con, có lần ông N còn đem theo cả dao chặt phá cây cảnh nơi bà ở, đòi đánh ông Tr nhưng vì các con bà không báo công an. Ông N cũng thường nhậu say gọi điện, nhắn tin chửi bới, xúc phạm bà lúc đêm khuya nên bà mới chặn cuộc gọi của ông N. Hiện nay bà đã đã ly hôn nên có quyền quen người khác, bà và ông Tr đã làm đám cưới nhưng chưa đăng ký kết hôn. Ông Tr hiện nay ở nhà nuôi gà bán còn bà thì làm nông (làm rẫy, trồng hành tỏi), khi rảnh bà đi thu mua phế liệu và làm thuê nên thu nhập riêng bà khoảng 10.000.000đ/tháng còn chưa tính thu nhập của ông Tr. Bà và ông Tr chưa có con chung nên cả hai đều yêu thương, chăm sóc cháu cháu T đầy đủ và phát triển bình thường như bao đứa trẻ cùng lứa tuổi. Bà khẳng định ông Tr không có đánh đập, ngược đãi cháu T mà yêu thương, chăm sóc cháu như con, cháu Tài gọi ông Tr là “ba” và được ông Tr chăm sóc hàng ngày từ việc ăn uống đến đưa đón đi học khi bà bận công việc. Nếu ông Trung không thương yêu cháu Tài thì bà không cưới ông Trung, cháu Tài cũng rất thương và nghe lời ông Trung. Đối với con khi quậy phá hoặc không nghe lời, bà và ông Tr đều dạy dỗ cháu nhưng không có việc ông Tr bạo hành cháu Tài. Ông Tr không có hành vi đe dọa chá M, cháu H như ông N khai.
Nếu ông N thăm con đàng hoàng khi cháu không phải đi học, khi ông Nghịch tỉnh táo và có thông báo với bà trước vào thời gian hợp lý thì bàvẫn cho thăm con nhưng ông N chỉ kiếm cớ để quậy phá nên bà không cho gặp con, trước đây bản thân ông Nghịch cũng đã nói cháu Tài không phải là con của ông.
Vì những lý do như trên nên bà không đồng ý yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là cháu Trần Đỗ Chí T – sinh ngày: 17/8/2017 từ bà sang ông Trần N, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật.
Về nội dung: Hiện nay ông N thu nhập 10.000.000đ/tháng và đã nuôi 02 người con chung, bà T cũng thu nhập như vậy nhưng chỉ nuôi mình cháu T, ông N không chứng minh được việc bà T cấm cản việc thăm con và việc ông Tr – người đang chung sống với bà T có hành vi đánh đập, ngược đãi cháu T. Hiện nay cháu Tài được bà chăm sóc, nuôi dưỡng phát triển tốt về mọi mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông N
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.
Qua nghiên c u các tài liệu, ch ng c có trong h sơ vụ án và lời trình bày của đương sự đã đư c thẩm tra tại phiên tòa.
Căn c kết quả xét hỏi công khai và nghe ý kiến phát biểu của nguyên đơn tại phiên tòa.
Sau khi Hội đ ng xét xử nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ông Trần N yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôicon sau khi ly hôn là cháu Trần Đỗ Chí T – sinh ngày: 17/8/2017 từ bà Đỗ Thị T sang ông N, bà T không đồng ý và không có yêu cầu phản tố. Bị đơn có nơi cư trú ở huyện Ninh Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
Về nội dung: Ông Trần Ng yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Trần Đỗ Chí T– sinh ngày: 27/8/2017 từ bà Đỗ Thị T sang ông do bà T ngăn cản không cho ông thăm con, không đủ điều kiện về mọi mặt để nuôi con, người đang chung sống với bà T có hành vi bạo hành cháu T.
Ông N khai bà T ngăn cản không cho ông thăm con và có cháu M và cháu H làm chứng nhưng lời khai của cháu M, cháu H thể hiện không có việc bà T cấm cản ông N thăm cháu T, khi ông N muốn thăm cháu T thì bà T chở cháu T về Thanh Hải cho ông N thăm. Gần đây khi ông N chở theo cháu M, cháu H đi thăm cháu T nhưng do ông N say và quậy phá làm hư hỏng đồ đạc nhà bà T nên bà T không cho thăm cháu Tài, lời khai của bà P - chị ông N thể hiện bà T vẫn cho ông N gặp cháu T và cũng về thăm cháu H, cháu M. Bản thân ông N không cung cấp được chứng cứ nào khác về việc bà T không cho ông thăm cháu T. Lời khai của cháu hiền, cháu M cũng thể hiện không có việc cháu M bị đe doạ hiếp dâm hay ông Tr đe doạ trộm cắp nhà ông N.
Đối với lý do người đang chung sống cùng bà T là ông Lê Văn Tr có đánh đập cháu T thì ông N không cung cấp được bằng chứng cụ thể. Ông N đưa ra người làm chứng là ông Nguyễn X nhưng không cung cấp được năm sinh của ông X, các giấy triệu tập Tòa án gửi ông N cam kết giao lại cho ông X nhưng ông X cũng không đến Tòa án nên không thu thập được lời khai của ông X về việc chứng kiến ông Tr đánh cháu Tài. Bản thân ông N cũng thừa nhận ông không chứng kiến, không thấy hoặc biết cụ thể ông Tr đánh cháu T như thế nào Bà T, ông Tr khai nuôi dạy cháu T cũng có đôi lúc phải rèn, dạy cháu khi phạm lỗi chứ không đánh đập, ngược đãi. Nếu ông Tr đánh đập, ngược đãi cháu T thì cháu không thể gọi ông Tr là “ba” ngay trước mặt ông Ngh. Ban quản lý thôn KN cũng xác nhận chưa thấy ai báo tin về việc bà T cấm cản ông N thăm con hay cháu T bị đánh đập, ngược đãi.
Ông N cho rằng bà T không có việc làm ổn định, ông Tr là người cờ bạc, cho vay nặng lãi nhưng theo xác nhận của Ban quản lý thôn Khánh Nhơn 1 – nơi bà T, ông Tr đang sinh sống thì bà T – ông Tr đang chung sống cùng cháu T tại nhà riêng của chị bà T là bà Đỗ Thị L. Bà T hiện đang làm rẫy, lúc rảnh rỗi đi thu mua phế liệu và làm thuê nên thu nhập hàng tháng là 10.000.000đ. Cháu T do bà T nuôi dưỡng phát triển bình thường về mọi mặt. Tại phiên toà bà Đỗ Thị L cũng trình bày do vợ chồng bà có 02 căn nhà nên hiện nay cho em gái là bà T ở 01 căn, bà thấy bà T, ông Tr nuôi dưỡng chăm sóc cháu T đầy đủ mọi mặt và phát triển bình thường không có việc hành hạ đánh đập cháu Tài. Nếu ông Trung đánh đập, hành hạ cháu Tài thì bà đã không cho bà T quen ông Tr. Việc ông N đến nơi bà T ở khi say và quậy phá bà có biết nhưng bà T không báo chính quyền giải quyết nên bà tôn trọng quyết định của bà T. Về thu nhập của ông N hiện nay làm nghề biển thu nhập trung bình là 10.000.000đ/tháng trong khi phải lo cho 02 con đang tuổi ăn học là cháu M, cháu H.
Theo nội dung xác nhận tại trường mầm non NH nơi cháu T đang học thì 02 năm nay cháu T học tại trường, hàng tháng bà T vẫn đóng học đầy đủ cho cháu. Hiện nay cháu phát triển bình thường về mọi mặt, đi học đầy đủ và không có biểu hiện bất thường. Hàng ngày cháu Tài được bà T, ông Tr đưa đón, chăm sóc.
Tại phiên toà ông Trần thừa nhận ông làm nghề đi biển nên thường xuyên phải ở lại biển ban đêm đến sáng mới về có khi 09-10 giờ sáng mới về nên cháu M và cháu H đều phải tự lo khi ông vắng nhà, nếu có việc gì cần các cháu có thể nhờ các chị em gái của ông giúp đỡ. Hiện nay cháu T mới 05 tuổi là độ tuổi đang cần sự chăm sóc, bao bọc thường xuyên từ cha mẹ cả ngày lẫn đêm nên bà Thoa sẽ có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T hơn ông h vì không phải đi làm đêm.
Từ các nội dung nhận định như trên cho thấy bà T vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T đầy đủ và cháu vẫn phát triển bình thường về mọi mặt, không có biểu hiện bị ngược đãi. Bà cũng không có hành vi ngăn cản ông N thăm con. Điều kiện nuôi con về thu nhập, thời gian và nơi ở hiện nay bà T đều bảo đảm nên HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Tài từ bà T sang ông N.
Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần N về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với bị đơn bà Đỗ Thị T
Về án phí: Ông Trần N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đ ng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đ ng) theo Biên lai thu số 0006859 ngày 12/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải. Ông N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/9/2022)./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Ninh Thuận; -VKSND huyện Ninh Hải; - Chi cục THADS huyện Ninh Hải; - Lưu (hồ sơ, án văn); | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Huế |