vanban.org

Bản án 52/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ tình cảm: xử cho chị Trịnh Thị Hồng N được ly hôn anh Đậu Ngọc T.

Về con chung: giao con chung là Đậu Ngọc Tuệ A, sinh ngày: 29/9/2009 cho chị Trịnh Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T do chị N không yêu cầu. Anh T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và gặp gỡ con chung, chị N … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: xử cho chị Trịnh Thị Hồng N được ly hôn anh Đậu Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
TØnh NghÖ an

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 6/6/2022
“ Về tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Lê Thị Hoài

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Xuân Oanh, ông Trần Quốc Đấu

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Hưng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà:bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 233/2021 - HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn và tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: /2022/QĐST-HNGĐ ngày 4 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/QĐST-HNGĐ ngày 20/5/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Hồng N - sinh năm 1977 Nơi ĐKNKTT: xóm Tiến Lộc, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Chỗ ở hiện nay: xóm Phúc Lộc, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An -có mặt

- Bị đơn: Anh Đậu Ngọc T - sinh năm 1975 Nơi ĐKNKTT: xóm Tiến Lộc, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An – vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa thì vụ án có nội dung như sau:

Chị Trịnh Thị Hồng N và anh Đậu Ngọc T lấy nhau trên cơ sở hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An vào ngày 30/12/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không phù hợp tính tình, quan điểm sống nên trong cuộc sống hàng ngày thường phát sinh mâu thuẫn và có nhiều lúc đã xúc phạm đến nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã kéo dài và trầm trọng nên xin được ly hôn với anh T.

Về con: vợ chồng có 2 con chung là Đậu Đức T, sinh ngày 02/4/2003 và Đậu Ngọc Tuệ A, sinh ngày: 29/9/2009. Ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi con chung là Đậu Ngọc Tuệ A, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung là Đậu Đức T đã đủ tuổi trưởng thành nên ở với ai do con quyết định.

Về tài sản: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Đậu Ngọc T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản để anh T biết tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa xét xử nhưng anh T không đến Tòa án và ngày 23/5/2022 anh Đậu Ngọc T có gửi bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt. Tại bản tự khai anh T cũng nhất trí ly hôn và giao con chung là cháu Đậu Ngọc Tuệ A cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng nhưng nếu chị N không có khả năng nuôi hoặc đi lấy chồng thì giao con lại cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với con trai là Đậu Đức T ở với ai do con quyết định. Về tài sản chung của vợ chồng anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời anh T cũng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Thành phố Vinh phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết đúng vụ án đúng quy định tại điều 28, điều 35 BLTTDS; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định. Hội đồng xét xử cũng đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 51, 53, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị N được ly hôn với anh T. Về con: Vợ chồng có 2 con chung là Đậu Đức T, sinh ngày 02/4/2003 và Đậu Ngọc Tuệ A, sinh ngày: 29/9/2009. Nay ly hôn giao con chung Đậu Ngọc Tuệ A cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T do chị N không yêu cầu. Đối với con chung Đậu Đức T đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét. Về tài sản: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Buộc chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, quan điểm của đại diện VKS, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy:

1. Về thủ tục tố tụng: đây là vụ án tranh chấp ly hôn và yêu cầu nuôi con, bị đơn là anh Đậu Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại xóm Tiến Lộc, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh nên giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo. Tòa án đã tống đạt các văn bản thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh T theo đúng quy định và hợp lệ nhưng anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 điều 28, điều 147, khoản 3 điều 228, điều 271, điều 273 BLTTDS để giải quyết vụ án.

2. Về nội dung vụ án:

Về nội dung vụ án: chị N, anh T lấy nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, do hai bên tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại UBND phường xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An vào ngày 30/12/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở phiên hòa giải nhiều lần nhưng anh T vẫn vắng mặt và có bản trình bày về tình cảm anh cũng nhất trí ly hôn, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng. Xét mâu thuẫn giữa chị Trịnh Thị Hồng N và anh Đậu Ngọc T đã rất trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị N được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Quá trình chung sống chị N, anh T có 2 con chung là Đậu Đức T, sinh ngày 02/4/2003 và Đậu Ngọc Tuệ A, sinh ngày: 29/9/2009. Nay ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng của chị N là phù hợp với nguyện vọng của cháu Đậu Tuệ Ngọc An. Tại bản tự khai anh T cũng nhất trí giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con nên giao con chung Đậu Ngọc Tuệ A cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành là phù hợp. Đối với cháu Đậu Đức T đã đủ tuổi trưởng thành nên việc ở với ai do con lựa chọn nên không xem xét.

- Về cấp dưỡng nuôi con: quá trình giải quyết vụ án chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên cần tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T.

- Về quyền thăm nom, gặp gỡ và chăm sóc con chung sau khi ly hôn: anh T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc, gặp gỡ con chung chị N và người thân trong gia đình không ai được ngăn cấm.

- Về tài sản: chị N, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

- Về án phí: Buộc chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các điều 56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, điều 147, khoản 3 điều 228, điều 271, điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử:

- Về quan hệ tình cảm: xử cho chị Trịnh Thị Hồng N được ly hôn anh Đậu Ngọc T.

- Về con chung: giao con chung là Đậu Ngọc Tuệ A, sinh ngày: 29/9/2009 cho chị Trịnh Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T do chị N không yêu cầu.

Anh T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và gặp gỡ con chung, chị N và người thân trong gia đình không ai được ngăn cấm.

Về án phí: chị Trịnh Thị Hồng N phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ do đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Vinh theo biên lai nộp tiền số 0009943 ngày 31 tháng 03 năm 2022.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị N có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Anh T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ./. Nơi gửi:

Cỡ chữ