vanban.org

Bản án 52/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Hoàng B ly hôn.

Về con chung: Giao con chung Lê Hoàng Tuấn K, sinh năm 04-01-2020 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Hoàng B không phải cấp dưỡng nuôi con. Quyền, nghĩa vụ thăm nom con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu H và Lê Hoàng B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Hoàng B ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 52/2022/HNGĐ-ST.
Ngày: 26-9-2022
V/v: ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Duy Trâm và bà Trần Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông – Thư ký của Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông K’Dem - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2022 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ A, Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Lê Hoàng B, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 6 năm 2022, trong quá trình xét xử và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Hoàng B kết hôn ngày 11-02-2020, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau. Bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu ly hôn ông Lê Hoàng B. Việc ly hôn bà đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Lê Hoàng Tuấn K, sinh ngày 04-01-2020. Khi ly hôn bà yêu cầu giao con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Lê Hoàng B phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung, nợ riêng: đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa bị đơn ông Lê Hoàng B vắng mặt không rõ lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, thông báo nhiều lần nhưng ông Lê Hoàng B đều vắng mặt, nên Tòa án không lấy được lời khai của ông Lê Hoàng B.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Hoàng B ly hôn.Về con chung giao cho bà Lê Thị Thu Hương trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Hoàng B không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản không xem xét giải quyết. Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Hoàng B. Ông Lê Hoàng B hiện đang cư trú tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lê Hoàng B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Hoàng B tự nguyện kết hôn ngày 11 tháng 02 năm 2020, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Hoàng B là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng B là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Hoàng B có một con chung là Lê Hoàng Tuấn K, sinh ngày 04-01-2020. Khi ly hôn yêu cầu giao con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Lê Hoàng B phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, con chung dưới 36 tháng tuổi, hiện đang sống cùng với bà Nguyễn Thị Thu H, cần ổn định cuộc sống của con chung, bà Nguyễn Thị Thu H có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, xét quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần giao con chung là Lê Hoàng Tuấn K, sinh ngày 04-01-2020 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Hoàng B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Tài sản chung; Tài sản nợ chung; Tài sản nợ riêng đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên không xem xét giải quyết về tài sản.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 238 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Hoàng B ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung Lê Hoàng Tuấn K, sinh năm 04-01-2020 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Lê Hoàng B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền, nghĩa vụ thăm nom con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006722 ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. Bà Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Hoàng B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

5. Bản án này được thi hành ngay theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ