vanban.org

Bản án 52/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn ông Lê Việt T về việc chia nợ chung sau khi ly hôn. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân — án hôn nhân và gia đình — "Chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2022
V/v:" Tr/c chia tài sản chung,
nợ chung sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Huyền Trang.

2. Bà Lê Thị Hường.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen –Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam –Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 246/2021/TLST–HNGĐ ngày 10/5/2021 về việc "Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10/6/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978 (có mặt).

Bị đơn: Ông Lê Việt T, sinh năm 1978 (vắng mặt). Cùng trú tại: Thôn P, xã P, huyện N, Ninh Thuận.

Người liên quan: Ngân hàng Chính sách xã hội huyện N, tỉnh Ninh Thuận (yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Ngày 29/7/2020, Tòa án nhân dân huyện N giải quyết cho bà và ông Lê Việt T ly hôn theo Bản án số 56/2020/HNGĐ-ST. Bà được quyền nuôi con chung là cháu Lê Nguyễn Khánh Như -sinh năm 2006. Ông Lê Việt T không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung tự thỏa thuận. Tuy nhiên do bà và ông T không thỏa thuận được nên bà yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung của vợ chồng sau khi ly hôn:

Về tài sản chung gồm: +01 căn nhà gắn với thửa đất số 217, tờ bản đồ 19b đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2015. Nguồn gốc đất do bà và ông T cùng mua trong thời kỳ hôn nhân và cùng xây nhà trên đất; +01 xe mô tô biển số 85D1-39136, mua năm 2017 với giá 45.000.000 đồng, do ông T đứng tên và quản lý; +04 con bò. Đối với xe mô tô và 04 con bò thì ông T đã tự ý bán và tiêu xài cá nhân. Bà không biết ông T bán cho ai, với giá bao nhiêu. Nay bà yêu cầu ông T phải chia ½ số tiền bán chiếc xe và bò cho bà. Bà yêu cầu được nhận nhà, đất để có chỗ ở ổn định nuôi con, bà sẽ thối lại ½ giá trị nhà, đất cho ông T.

Về nợ chung: Nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện N vay năm 2016-2017, để bắt nước sạch và xây nhà vệ sinh tồng cộng 22.000.000 đồng. Bà đứng tên vay, ông T thừa kế. Trong quá trình vay vợ chồng đã trả cho Ngân hàng được một khoảng tiền. Hiện dư nợ còn khoảng 11.000.000 đồng. Nay bà đồng ý tự trả nợ cho Ngân hàng, nên xin rút không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ chung.

Quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Lê Việt T trình bày:

Ông đồng ý với trình bày của bà Nguyễn Thị H về số tài sản chung và nợ chung là đúng. Tuy nhiên ông Lê Việt T mong muốn để lại toàn bộ tài sản chung là nhà, đất cho con tên Lê Nguyễn Khánh Như -sinh năm 2006. Ông không muốn chia tài sản chung theo yêu cầu của bà H. Ông T thừa nhận đã bán một số tài sản chung là chiếc xe mô tô biển số 85D1-39136, được 25.0000.000 đồng vào khoảng đầu năm 2021 và bán 04 con bò (trong đó có 02 con bò lớn và 02 con bò nhỏ được 54.0000.000 đồng vào tháng 5 năm 2020, cho một người không rõ họ tên, địa chỉ. Tổng số tiền bán xe và bán bò được 79.000.000 đồng thì ông đã tự tiêu xài cá nhân. + Về nợ ngân hàng chính sách xã hội huyện N 22.000.000 đồng thì ông đã trả được 10.000.000 đồng. Số dư nợ còn lại khoảng 11.000.000 đồng thì bà H phải tự trả.

Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng Chính sách xã hội huyện N, tỉnh Ninh Thuận có ý kiến:

Vào năm 2016-2017, bà Nguyễn Thị H là người đứng tên sổ vay vốn, ông Lê Việt T là người thừa kế, có vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện N theo chương trình hộ mới thoát nghèo số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 25/5/2016, và vay theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường Nông thôn số tiền 12.000.000 đồng vào ngày 07/7/2017. Tổng cộng 22.000.000 đồng. Hiện số dư nợ hộ bà H còn phải trả 11.000.000 đồng. Qua phối hợp với cấp Hội, Tổ tiết kiệm vay vốn làm việc trực tiếp với bà Nguyễn Thị H thì bà H tự chịu trách nhiệm trả số nợ này. Vì vậy Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ này.

Tại phiên tòa các đương sự không nộp thêm chứng cứ gì.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70,71,72,73 của BLTTDS.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị H được quyền quản lý sử dụng: Diện tích đất 162m2 thuộc thửa đất số 217, tờ bản đồ 19b, và tài sản trên đất, tọa lạc tại thôn P, xã P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 556298 ngày 27/4/2015 của UBND huyện N. Ông Lê Việt T có quyền sở hữu số tiền chênh lệch chia tài sản chung do bà H hoàn trả. Về án phí và các chi phí tố tụng khác các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày c a các đương sự đã được th m tra tại phiên tòa.

Căn cứ kết quả hỏi công khai và nghe các đương sự tranh luận tại phiên tòa.

Sau khi Hội đồng x t x sơ th m nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được th m tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến c a Kiểm sát viên, Hội đồng x t x (HĐXX) nhận định:

Về th tục tố tụng: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đương sự nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung là căn nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất số 217, tờ bản đồ 19b, diện tích 162m2, tọa lạc tại thôn P, xã P, huyện N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 556298 ngày 27/4/2015 của UBND huyện N và Nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện N. Tài sản tranh chấp và các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ khoản 1 điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, HĐXX xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng: Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các thông báo khác theo quy định tại Điều 177 BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, Tòa án T hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định pháp luật.

Nội dung pháp luật áp dụng: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung vụ án: Bà H và ông T là vợ chồng từ năm 2001 nhưng đã được Tòa án giải quyết ly hôn theo Bản án số 56/2020/HNGĐ-ST ngày 29/7/2020. Do không thỏa thuận được về tài sản chung, nợ chung nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn. Tài sản chung gồm: + 01 căn nhà cấp 4 gắn liền thửa đất số 217, tờ bản đồ 19b, tại thôn P, xã P; +01 xe mô tô biển số 85D1-39136; +04 con bò. Về nợ chung vay 22.000.000 đồng của Ngân hàng chính sách xã hội huyện N.

Nguồn gốc tài sản tranh chấp: Nguyên đơn và bị đơn thống nhất nội dung: Năm 2004, vợ chồng mua đất và cùng xây nhà trên đất, đến năm 2015 mới làm thủ tục và được UBND huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 556298 ngày 27/4/2015 đứng tên bà H và ông T đối với thửa đất số 217, tờ bản đồ 19b, diện tích 162m2 tọa lạc tại thôn P, xã P, huyện N.

Tài sản chung còn có 01 xe mô tô hiệu Hon đa Airade biển số 85D1-39136, vợ chồng mua năm 2017 giá 45.000.000 đồng, do ông Lê Việt T đứng tên, quản lý và 04 con bò (gồm 02 con bò trưởng thành và 02 con bò con), vợ chồng cùng mua bò và nuôi chung. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T thừa nhận đã tự ý bán tài sản chung của vợ chồng là xe và bò nêu trên được 79.000.000 đồng và ông T đã tự tiêu xài hết số tiền này, nên bà H không phải chứng minh tài sản chung này là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 92 BLTTDS.

Do vậy HĐXX xác định: 01 thửa đất số 217, tờ bản đồ 19b, diện tích 162m2 và tài sản trên đất tại thôn P, xã P và 01 xe mô tô 85D1-39136 và 04 con bò là tài sản chung của bà Nguyễn Thị H và ông Lê Việt T tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nhưng chưa được chia.

Quá trình giải quyết vụ án ông Lê Việt T khai nhận: Khoảng cuối năm 2020, đầu năm 2021, ông T đã bán 01 xe mô tô hiệu hon đa Airade biển số 85D1-39136 được 25.0000.000 đồng và bán 04 con bò được 54.000.000 đồng cho một người không rõ họ tên và địa chỉ. Số tiền bán xe, bán bò được tổng cộng 79.000.000 đồng ông T đã tự tiêu xài cá nhân. Nay bà H yêu cầu ông T phải chia ½ số tiền bán xe và bò cho bà là 39.500.000 đồng.

Xét việc ông T đã tự ý bán tài sản chung của vợ chồng là 01 xe mô tô và 04 con bò và tự tiêu xài cá nhân hết mà không có sự đồng ý của bà H là không đúng. Do đó, việc bà H yêu cầu ông T phải chia ½ số tiền bán xe và bò cho bà H là có căn cứ, đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Đối với 01 căn nhà cấp 4C gắn với thửa đất 217, tờ bản đồ 19b, diện tích 162m2, tại thôn P, xã P thì bà H có nguyện vọng được nhận nhà, đất để có chỗ ở ổn định. Từ sau khi ly hôn cho đến nay bà và con Lê Nguyễn Khánh Như -sinh năm 2006 không có chỗ ở ổn định và phải đi ở đỗ nhà người khác, hiện bà H và con gái đang sống nhờ bên nhà mẹ ruột. Bà H yêu cầu được nhận nhà, đất và sẽ thối lại ½ giá trị nhà, đất cho ông T. Tuy nhiên ông T không đồng ý với yêu cầu chia tài sản chung của bà H. Ông T muốn để lại toàn bộ tài sản là nhà, đất cho con Lê Nguyễn Khánh Như.

Xét yêu cầu bà Nguyễn Thị H thấy rằng: Từ khi vợ chồng ly hôn cho đến nay, bà H là người trực tiếp nuôi con chung nhưng không có chỗ ở ổn định. Nay bà H yêu cầu chia nhà, đất và có nhu cầu nhận đất và nhà để ở. Do vậy, để ổn định cuộc sống, đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ và con nhỏ sau khi ly hôn, ưu tiên cho bà H được quyền lựa chọn mà vẫn đảm bảo nguyên tắc tài sản chung được chia đôi không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H. Bà H sẽ được nhận 01 căn nhà cấp 4 và công trình phụ gắn liền với diện tích đất 162m2 thuộc thửa 217, tờ bản đồ 19b theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 556298 ngày 27/4/2015, và bà H phải hoàn tiền chênh lệch về đất và tài sản trên đất cho ông T là phù hợp pháp luật.

Theo biên bản định giá tàì sản chung của bà H, ông T gồm:

* Đất tranh chấp 162m2, vị trí: 2.

Giá Nhà nước: 150.000đ/m2 x 162m2 = 24.300.000 đồng.

Giá đương sự cung cấp: 500.000đ/m2 x 162m2 = 81.000.000 đồng.

*Tài sản trên đất:

- Nhà chính: móng xây đá chẻ, nền xi măng, mái lợp tôn, cửa tôn, tường xây gạch quét sơn, diện tích 30m2, nhà cấp 4C, giá trị còn lại 50%.

Trị giá: 30m2 x 2.300.000đồng/m2 x 50% = 34.500.000 đồng.

- Nhà bếp: móng xây đá chẻ, nền xi măng, cửa tôn, mái tôn, tường xây gạch quét sơn, diện tích 06m2, nhà cấp 4 C, giá trị còn lại 50%,

Trị giá: 06m2 x 2.300.000đồng/m2 x 50% = 6.900.000 đồng.

-Nhà vệ sinh: nền gạch bông, tường xây gạch quét sơn, mái tôn, cửa tôn diện tích 04m2, nhà cấp 4 C, giá trị còn lại 60%,

Trị giá: 04m2 x 2.300.000đồng/m2 x 60% = 5.520.000 đồng.

-Mái che: trụ sắt, nền xi măng, mái tôn, cột kèo sắt, diện tích 25m2, giá trị còn lại 60%. Trị giá: 25m2 x 741.000đồng/m2 x 60% = 11.115.000 đồng.

-Sân xi măng: diện tích 60m2, giá trị còn lại 50%,

Trị giá: 60m2 x 177.000đồng/m2 x 50% = 5.310.000 đồng.

-Chuồng Bò: trụ gỗ, nền xi măng, mái tôn, diện tích 24m2, giá trị còn lại 10%. Trị giá: 24m2 x 433.000đồng/m2 x 10% = 1.039.200 đồng. -Hàng rào: Lưới B40, trụ gỗ, cao 2m, dài 20m, có giá 57.000đồng/m. Trị giá: 20m x 57.000đồng/m = 1.140.000 đồng. -Trụ cổng: xây gạch kích thước (0,4 x 0,4 x 2,2)m = 0,352m3, giá trị còn lại 30%. Trị giá: 0,352m3 x 2.464.000đồng/m3 x 30% = 260.198 đồng. -Cổng sắt: kích thước (cao 2m x dài 1,6m) =3,2m2, Trị giá: 3,2m2 x 42.000đồng/m2 = 134.400đồng. -01 cây trồng bóng mát phi nhỏ 20cm, giá 207.500đồng/cây. * Tài sản trong nhà gồm: -01 bộ bàn ghế salon, màu đỏ đô giá 350.000 đồng. -01 tủ búp phê 300.000 đồng -01 Tivi loại 21 inch 100.000 đồng -01 bộ bàn kệ học sinh 100.000 đồng -01 bộ bàn ghế đá (01 bàn, 03 ghế) 2.45.000 đồng.

Để áp dụng theo hướng có lợi cho đương sự nên HĐXX xét thấy nên áp dụng giá đất do đương sự cung cấp có giá 500.000 đồng/1m2 để giải quyết vụ án.

Tổng cộng giá trị tài sản chung của bà H, ông T là 229.426.000 đồng gồm: 81.000.000 đồng (Đất) + 69.426.000 đồng (Tài sản trên đất và vật dụng trong nhà) + 79.000.000 đồng (tiền bán xe mô tô 85D1-39136 và 04 con bò).

Bà H và ông T mỗi người được nhận ½ giá trị tài sản chung là 114.713.000 đồng (cách tính 229.426.000 đồng : 2).

Phân chia tài sản chung:

Bà Nguyễn Thị H được quyền sở hữu: 01 căn nhà cấp 4C và công trình phụ, cùng các vật dụng trong nhà được gắn liền với diện tích đất 162m2 thuộc thửa số 217, tờ bản đồ 19b, ở thôn P, xã P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 556298 ngày 27/4/2015 của UBND huyện N, theo trích sao bản đồ địa chính ngày 02/7/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Ninh Thuận-Chi nhánh huyện N. Tài sản bà H được nhận trị giá 150.426.000đồng bao gồm: 81.000.000 đồng (Đất) + 69.426.000 đồng (Tài sản trên đất và vật dụng trong nhà).

Ông Lê Việt T được chia ½ tổng giá trị tài sản chung là 114.713.000 đồng. Do ông T đã quản lý số tiền 79.000.000 đồng từ tiền bán tài sản chung là 01 xe mô tô 85D1-39136 và 04 con bò nên ông T sẽ được nhận số tiền 35.713.000 đồng do bà H hoàn tiền chênh lệch chia tài sản chung.

+ Về nợ chung: Nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện N vay năm 2016-2017, để bắt nước sạch và xây nhà vệ sinh tồng cộng 22.000.000 đồng. Bà H đứng tên vay, ông T thừa kế. Hiện số dư nợ bà H, ông T còn khoảng 11.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà H tự đứng ra trả nợ, không yêu cầu ông T cùng trả số nợ cho Ngân hàng. Bà H xin rút không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ chung. Ý kiến của Ngân hàng chính sách xã hội huyện N cho rằng, qua phối hợp với cấp Hội, Tổ tiết kiệm vay vốn làm việc trực tiếp với bà Nguyễn Thị H thì bà H chịu trách nhiệm trả số dư nợ còn lại. Vì vậy Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy HĐXX không xét đến nợ chung.

Từ những phân tích, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của BLTTDS; khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bà H và ông T mỗi người phải chịu 5.735.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (cách tính tổng giá trị tài sản chung 229.426.000 đồng : 2 x 5%).

Về chi phí th m định, định giá; chi phí trích lục và án phí dân sự sơ th m:

Bà H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá, trích lục là 2.500.000 đồng. Bà H không yêu cầu ông T phải hoàn trả số tiền này. Xét đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên HĐXX chấp nhận. Bà H đã nộp đủ số tiền này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 37, Điều 38; Điều 59; Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 177, Điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Điều 213 của Bộ luật dân sự 2015;

Điểm b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn ông Lê Việt T về việc chia nợ chung sau khi ly hôn.

Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn ông Lê Việt T về việc chia tài sản chung sau khi ly hôn.

3. Bà Nguyễn Thị H được quyền sở hữu: 01 căn nhà cấp 4C và công trình phụ, cùng các vật dụng trong nhà được gắn liền với diện tích đất 162m2 thuộc thửa số 217, tờ bản đồ 19b, ở thôn P, xã P, huyện N theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 556298 ngày 27/4/2015 của Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

4. Ông Lê Việt T có quyền sở hữu số tiền 35.713.000 đồng (Ba mươi lăm triệu, bảy trăm mười ba nghìn đồng) do bà Nguyễn Thị H hoàn tiền chênh lệch chia tài sản chung.

5. Về án phí: Ông Lê Việt T phải chịu 5.735.000 đồng (Năm triệu, bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị H phải chịu 5.735.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 3.275.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0025587 ngày 06/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Bà Nguyễn Thị H còn phải nộp thêm 2.460.000 đồng (Hai triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Khi bà Nguyễn Thị H bù tiền chênh lệch tài sản cho ông Lê Việt T xong thì bà Nguyễn Thị H có quyền đến cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất trên cho cá nhân bà theo quy định pháp luật.

Án sơ thẩm xử công khai có mặt nguyên đơn quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

(Kèm theo trích sao bản đồ địa chính ngày 02/7/2021 c a Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Ninh Thuận-Chi nhánh huyện N).

Cỡ chữ