vanban.org

Bản án 52/2022/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thùy D.

Bà Hồ Thị Thùy D và ông Lưu Quốc V ly hôn với nhau. Con chung: Buộc ông Lưu Quốc V giao bà Hồ Thị Thùy D nuôi dưỡng 01 con chung tên Lưu Khánh H, sinh ngày 20/3/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thùy D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/HN-ST
Ngày: 12 - 7 - 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Phụng

Bà Huỳnh Thị Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: (Không tham gia)

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2022/TLST-HNGĐ ngày 06/6/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thùy D, sinh năm 1991 (có mặt)

Nơi cư trú: số nhà M, ấp L1, xã L2, huyện L3, tỉnh Vĩnh Long

- Bị đơn: Ông Lưu Quốc V, sinh năm 1989 (có mặt)

Nơi cư trú: số nhà M, đường N, phường M, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/5/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bà Hồ Thị Thùy D trình bày:

Bà D và ông Lưu Quốc V đăng ký kết hôn ngày 18/5/2012 tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố V. Cuộc sống chung phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hòa hợp, không có tiếng nói chung, đã sống ly thân nhau 01 năm và hàn gắn nhưng không hạnh phúc. Bà D nhận thấy vợ chồng chung sống không hạnh phúc, yêu cầu ly hôn với ông V.

Con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lưu Khánh H, sinh ngày 20/3/2014 đang sống cùng bà D. Khi ly hôn, bà D yêu cầu nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng con chung tên Lưu Khánh H.

Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Tại Biên bản hòa giải ngày 28/6/2022, ông Lưu Quốc V trình bày:

Ông V đồng ý thời gian đăng ký kết hôn như bà D trình bày là đúng, thừa nhận cuộc sống chung thiếu sự chia sẽ cùng vợ do công việc bận rộn nhưng mâu thuẫn của vợ chồng không lớn. Ông V còn tình cảm thương yêu vợ, không đồng ý ly hôn với bà D.

Con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lưu Khánh H, sinh ngày 20/3/2014 đang sống cùng bà D. Trường hợp phải ly hôn, ông V đồng ý giao bà D nuôi dưỡng con chung. Ông V không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng con chung.

Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên ý kiến trình bày, không ai giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà D là người có quyền khởi kiện ông V tranh chấp ly hôn. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố V nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long. Vì vậy, thủ tục tố tụng trong vụ án đảm bảo quy định tại các Điều 28, 35, 39, 186 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Mâu thuẫn vợ chồng theo bà D trình bày do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từng ly thân và hàn gắn lại nhưng cuộc sống chung vẫn không hạnh phúc. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà D xác định yêu cầu ly hôn với ông V. Về phần mình, ông V không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ chung sống với nhau.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng của bà D, ông V thiếu sự quan tâm lẫn nhau, không còn sự tự nguyện chung sống cùng nhau của bà D. Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng phát sinh nhưng hai bên không tìm ra được giải pháp để hòa hợp, hàn gắn tình cảm. Vì vậy, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D về việc ly hôn với ông V.

Con chung tên Lưu Khánh H đang do bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông V cũng đồng ý giao bà D nuôi dưỡng con chung trong trường hợp phải ly hôn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông V giao bà D tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lưu Khánh H. Bà D không yêu cầu ông V cấp dưỡng con chung nên ông V không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng con chung.

Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Án phí: Buộc bà D nộp số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 19, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thùy D.

- Bà Hồ Thị Thùy D và ông Lưu Quốc V ly hôn với nhau.

- Con chung: Buộc ông Lưu Quốc V giao bà Hồ Thị Thùy D nuôi dưỡng 01 con chung tên Lưu Khánh H, sinh ngày 20/3/2014.

Ông Lưu Quốc V không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng con chung tên Lưu Khánh H.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Không có.

2. Buộc bà Hồ Thị Thùy D nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số No 0001246 ngày 01/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long nên bà Hồ Thị Thùy D không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ