- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tiền"
- Tòa quyết gì? Buộc Ông Nguyễn Văn M phải có nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thị Lệ Q tổng số tiền là 752.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 466 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/DS-ST Ngày 27 tháng 9 năm 2022 Về tranh chấp hợp đồng vay tiền” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Trung Nam
Ông Trịnh Hồng Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ái Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 124/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2022 về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2022/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Đặng Thị Lệ Q; Địa chỉ nơi thường trú: 38 Huỳnh Ngọc Đ, tổ 77 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M; Địa chỉ nơi thường trú: K60 LTT, phường A, quận K, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03 tháng 6 năm 2022 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đặng Thị Lệ Q trình bày:
Thông qua mối quen hệ quen biết, vì tin tưởng nên vào ngày 15/03/2019 Ông Nguyễn Văn M có mượn của bà Đặng Thị Lệ Q số tiền là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng y) với mục đích kinh doanh làm ăn. Khi mượn tiền ông M có viết giấy mượn tiền và hẹn hằng tháng sẽ hoàn trả dần số tiền trên. Tuy nhiên đến hạn ông M không trả, bà Đặng Thị Lệ Q đã rất nhiều lần liên lạc và đến nhà ông M đòi nợ, mỗi lần gặp ông M đều hứa sẽ hẹn ngày trả, khi đến hẹn ông M cắt đứt liên lạc không thực hiện việc trả nợ cho bà Đặng Thị Lệ Q. Do đó, bà Đặng Thị Lệ Q yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền nợ trên. Do ông M vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận nên bà Q yêu cầu ông M phải chịu tiền lãi chậm trả tính từ tháng 6/2019 - 8/2022 (là 03 năm 02 tháng), theo mức lãi suất 8%/năm với số tiền là 152.000.000đ. Như vậy, tổng gốc và lãi là 752.000.000đ.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày 15 tháng 03 năm 2019, thể hiện Ông Nguyễn Văn M xác nhận còn của bà Đặng Thị Lệ Q số tiền là 600.000.000đ và hẹn hàng tháng trả số tiền trên cho chị Quỳnh. Tuy nhiên, ông M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết nên bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông M phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi tính từ tháng 6/2019 - 8/2022 (là 03 năm 02 tháng), theo mức lãi suất 8%/năm với tổng số tiền gốc và lãi là 752.000.000 đồng là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 357, 468 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Đặng Thị Lệ Q khởi kiện vụ án Dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn Ông Nguyễn Văn M, nơi cư trú: Tổ 60, phường Anh Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ngày 07/6/2022 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án được quy định tại Điều 191, Điều 195 và khoản 1 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về nội dung tranh chấp: Vào 15/03/2019 Ông Nguyễn Văn M có mượn của bà Đặng Thị Lệ Q số tiền là 600.000.000 và hẹn hàng tháng sẽ trả dần số tiền trên, tuy nhiên ông M không thực hiện nghĩa vụ trả tiền như đã cam kết. Do đó, bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông M phải trả tiền gốc và lãi là 752.000.000đ. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thể hiện: Theo giấy mượn tiền ngày 15/03/2019, do bà Đặng Thị Lệ Q cung cấp có nội dung thể hiện Ông Nguyễn Văn M viết có mượn của bà Đặng Thị Lệ Q 600.000.000 đồng và cam kết hàng tháng trả số tiền trên cho bà Q. Tuy nhiên, đến hẹn trả nợ nhiều lần bà Q đã liên lạc và đến nhà ông M đòi nợ nhưng ông M cắt đứt liên lạc không thực hiện việc trả nợ cho bà Đặng Thị Lệ Q. Do ông M vi phạm nghĩa vụ trả tiền như đã cam kết nên bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông M phải có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc và tiền lãi với tổng số tiền là 752.000.000đ, (trong đó nợ gốc là 600.000.000đ và tiền lãi là 152.000.000đ, lãi tính từ 6/2019 - 8/2022 là 03 năm 02 tháng, theo lãi suất 08%/năm) là có căn cứ, phù hợp với Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên bị đơn Ông Nguyễn Văn M phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 37.600.000đ (752.000.000*5%) theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (V/v quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án). Hoàn trả cho bà Đặng Thị Lệ Q tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.000.000đ theo biên lai thu số 0002785, ngày 07/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 (V/v quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án).
Tuyên xử :
1. Buộc Ông Nguyễn Văn M phải có nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thị Lệ Q tổng số tiền là 752.000.000đ (bảy trăm năm mươi hai tiệu đồng), (trong đó, nợ gốc là 600.000.000đ và tiền lãi 152.000.000đ).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Ông Nguyễn Văn M phải chịu 37.600.000đ (ba mươi bảy triệu sáu trăm ngàn đồng) án phí. Hoàn trả cho bà Đặng Thị Lệ Q 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002785 ngày 07/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Vũ |