- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Minh Dung phạm tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 BLHS - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 52/2021/HSST Ngày 10/11/2021 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Văn Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoanh và bà Trần Thị Lệ Thủy
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thùy Trang – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Trúc Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Minh D, sinh ngày 23/5/1974; tại xã H, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Vĩnh N (sinh 1938) và bà Nguyễn Thị T (sinh 1947); có chồng nhưng đã ly hôn và có 05 con (lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh 2010).
Tiền án: không; tiền sự: Ngày 03/7/2020, bị Công an xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Đã chấp hành xong.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ngô Thị B, sinh năm: 1970; trú tại: Thôn P, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1972. Có mặt.
3. Lê Thị A, sinh năm: 1964. Có mặt.
4. Huỳnh Thị L, sinh năm: 1972. Có mặt.
5. Trần Thị B, sinh năm: 1963. Có mặt.
Cùng trú tại: thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.
*Người làm chứng: Nguyễn Thị Bích N, sinh năm: 1974; trú tại: thôn V, xã Đ,
huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30, ngày 06/4/2021, Nguyễn Thị Minh D và Nguyễn Thị Bích N đến nhà bà Trần Thị B (tại thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam) chơi. Tại đây, D gặp Nguyễn Thị H, Lê Thị A và Huỳnh Thị L đang ngồi chơi. Sau đó, D, H, L, A rủ nhau chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức bài “xì lát”. Sau khi thống nhất cách chơi và thắng thua thì cả nhóm sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá (bộ bài này do Nguyễn Thị H và Ngô Thị B sử dụng trước đó để đánh bài “Hồng điểm” ăn thua bằng tiền) bắt đầu đánh bài “Xì lát” ăn thua bằng tiền. Nguyễn Thị Minh D là người cầm cái, những người còn lại đặt cược mỗi ván 10.000 đồng. Khi cả nhóm đang chơi ván thứ ba thì bị Công an xã Đ, huyện Đ phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ tại sòng bạc số tiền 50.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá. Thu giữ của các đối tượng tham gia đánh bạc tổng số tiền 2.120.000 đồng (trong đó: Nguyễn Thị Minh D 500.000 đồng; Huỳnh Thị L 1.520.000 đồng; Lê Thị A 100.000 đồng).
Qua làm việc, các đối tượng khai nhận hành vi đánh bạc và giao nộp số tiền dùng để đánh bạc như sau:
Nguyễn Thị Mỹ D mang theo số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị phát hiện thắng Nguyễn Thị H 20.000 đồng (nhưng do H không có tiền lẻ nên chưa chung tiền), đã giao nộp cho Công an 5000.0000 đồng; Nguyễn Thị H mang theo số tiền 50.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị phát hiện thua hết 20.000 đồng (nhưng do không có tiền lẻ nên chưa chung tiền cho D), đã giao nộp cho Công an 50.000 đồng; Lê Thị A mang theo số tiền 100.000 đồng để đánh bạc, A thắng một ván và thua một ván nên vẫn còn lại 100.000 đồng, đã giao nộp cho Công an; Huỳnh Thị L mang theo số tiền 1.520.000 đồng để đánh bạc, L thắng một ván và thua một ván nên vẫn còn lại 1.520.000 đồng, đã giao nộp cho Công an. Như vậy, tổng số tiền cả nhóm sử dụng để đánh bạc là: 2.170.000 đồng
Trước đó, ngày 03/7/2020, Nguyễn Thị Minh D đã bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép”.
Tại Bản cáo trạng số 49/CT-VKS 30/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Minh D về tội "Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS2015.
Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1, khoản 3, Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS2015, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Minh D phạm tội: “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng khai báo phù hợp với các bị cáo và nội dung vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Đại Lộc, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Minh D đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như nội dung vụ án nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc ban đầu, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử xác định được: Khoảng 16 giờ 30, ngày 06/4/2021, tại nhà bà Trần Thị B (tại thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam), bị cáo Nguyễn Thị Minh D đã cùng với Nguyễn Thị H, Lê Thị A và Huỳnh Thị L tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền, dưới hình thức “Xì lát”. Tổng số tiền cả nhóm sử dụng để đánh bạc là 2.170.000 đồng, trong đó: Bị cáo Nguyễn Thị Minh D mang theo số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, thắng được 20.000 đồng (nhưng chưa nhận số tiền này), đã giao nộp cho Công an 500.0000 đồng.
Số tiền bị cáo D sử dụng đánh bạc lần này dưới 5.000.000 đồng, nhưng trước đó, ngày 03/7/2020, Nguyễn Thị Minh D đã bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Nên hành vi vi phạm của bị cáo lần này đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết trước được rằng hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền trái phép là hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi này, nhưng vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã tiếp tục đánh bạc ăn thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý công cộng và an toàn xã hội trên địa bàn xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, nên cần phải xử lý bị cáo một cách nghiêm minh để răn đe và ngăn ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có con còn nhỏ. Do đó, HĐXX áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Xét thấy quy mô đánh bạc của bị cáo không lớn nên HĐXX áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo cũng đủ đảm bảo răn đe đối với bị cáo.
Bị cáo có thu nhập không ổn định nên HĐXX không khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 BLHS.
Đối với Nguyễn Thị H, Lê Thị A và Huỳnh Thị L có hành vi đánh bạc dưới hình thức bài “Xì lát” ăn thua bằng tiền trái phép cùng với bị cáo D; Ngô Thị B có hành vi đánh bạc dưới hình thức bài “Hồng điểm” ăn thua thua bằng tiền trái phep với Nguyễn Thị H, nhưng số tiền sử dụng đánh bạc của các đối tượng nêu trên dưới 5.000.000 đồng và nhân thân chưa có tiền án, tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc hay đánh bạc nên cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với Trần Thị B đồng ý để cho các đối tượng trên chơi đánh bạc ngay tại phòng ngủ nhà mình là vi phạm pháp luật, tuy nhiên, chị B không thu lợi từ việc đánh bạc, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc hay đánh bạc nên UBND huyện Đại Lộc đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Dùng nhà, chỗ ở chứa bạc” là phù hợp.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, xử lý vật chứng như sau:
- Đối với số tiền 2.170.000 đồng: Đây là số tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc trái pháp luật nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước (Công an huyện Đại Lộc đã nộp số tiền này vào tài khoản số: 3949.0.1053629 tại Kho bạc Nhà nước huyện Đại Lộc).
- Đối với 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá, là công cụ mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy (Vật chứng này đã được niêm phong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc đang quản lý).
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS 2015.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Minh D phạm tội: "Đánh bạc".
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Minh D 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục đối với bị cáo nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Minh D cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị Minh D 10.000.000 (Mười triệu) đồng
- Về vật chứng: : Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.170.000 (Hai triệu một trăm bảy mươi ngàn) đồng (Công an huyện Đại Lộc đã nộp số tiền này vào tài khoản số: 3949.0.1053629 tại Kho bạc Nhà nước huyện Đại Lộc).
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá (vật chứng đã được niêm phong và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc đang quản lý).
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Minh D phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Q.Nam; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - Sở tư pháp tỉnh Q. Nam; - VKSND H. Đại Lộc; - Công an H. Đại Lộc; - Chi cục THADS H.Đại Lộc; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà HUỲNH VĂN PHÚ |