- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lù Thị M phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
TỈNH LÀO CAI
NAM
–––––––––––––––
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––––––––
Bản án số: 52/2021/HS-ST
Ngày 24- 11 -2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lựa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Vàng A Xà
2, Bà Vũ Thị Vẻ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Mới- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021, quyết định thay đổi hội thẩm nhân dân số 07/2021/QĐ- TA ngày 20/11/2021; quyết định hoãn phiên tòa số 09/2021/QĐST- HS ngày 11 tháng11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Thị M, sinh ngày 01/01/1967. Nơi sinh tại huyện MCCh, tỉnh YB. Nơi cư trú: Thôn NNh, xã KhY H, huyện VB, tỉnh LC.
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Lù Bùa S (đã chết), con bà Tráng Thị L (đã chết). Chồng: Tráng Vạng C, sinh năm 1968 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1996; con nhỏ nhất sinh năm 2007. Hiện trú tại xã KhY H, huyện VB, tỉnh LC; Tiền án: Không. Tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/8/2021 hiện đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện Văn Bàn. Có mặt.
+) Người bào chữa cho bị cáo Lù Thị M là: Bà Phạm Thị Hoa Huỳnh - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai - Có mặt.
+) Người phiên dịch cho bị cáo là: Anh Hầu Seo Sả, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn Nậm Cọ, xã Khánh Yên Thượng, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
+) Người làm chứng: + Anh Tráng A D, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn KhNg, xã L P, huyện VB, tỉnh LC.
+ Ông Tráng A D, sinh năm 1946.
Địa chỉ: Thôn NNh, xã KhY H, huyện VB, tỉnh LC.
+Chị Nông Thị Th, sinh năm 1988.
Đều có địa chỉ: Thôn B, xã KhY H, huyện VB, tỉnh LC. Những người làm chứng vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 26/8/2021, Lù Thị M đang ở nhà tại thôn Nà Nheo, xã Khánh Yên Hạ thì có Tráng A D - sinh năm 1988, trú tại thôn Khổi Ngoa, xã Liêm Phú đến nhà gặp M, D hỏi “Bà bán cho cháu một con”, M hiểu là D muốn mua một gói ma túy nên trả lời “Ừ”. D đưa cho M 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, M cầm tiền cất vào túi vải thổ cẩm đang đeo trước bụng lấy từ trong đó ra lọ nhựa màu trắng mở nắp và lấy 01 gói ma túy gói bằng giấy bạc màu trắng ra đưa cho D. Khi D vừa cầm gói ma túy cất vào bao thuốc lá Thăng Long thì Công an ập vào bắt quả tang. Khi được yêu cầu D tự giác lấy từ trong bao thuốc lá Thăng Long đang cầm trên tay phải ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục giao nộp và khai nhận là gói ma túy vừa mua được của M. M tự giác lấy từ túi vải thổ cẩm đeo trước bụng ra 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 lọ nhựa màu trắng có nắp, bên trong có 15 gói giấy bạc màu trắng, bên trong các gói đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục; lấy từ trong buồng ngủ của M ra 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục giao nộp, khai là ma túy. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng. Tiến hành khám xét chỗ ở của M nhưng không phát hiện và thu giữ gì.
Về nguồn gốc ma túy thu giữ Lù Thị M khai, khoảng cuối tháng 7/ 2021 (không nhớ ngày), M gặp và mua của người đàn ông không quen biết ở trên đường đi thuộc thôn Nà Nheo, xã Khánh Yên Hạ được 01 gói ma túy giá 3.000.000 đồng, mang về nhà cất giấu. Sáng ngày 26/8/2021 M lấy gói ma túy ra lấy một ít chia tách thành 16 phần, dùng giấy bạc màu trắng gói lại cất vào 01 lọ nhựa màu trắng có nắp để vào túi vải thổ cẩm đeo bên người, phần còn lại chưa chia tách M gói lại bằng nilon màu đen cất giấu trong phòng ngủ, mục đích để ai hỏi mua thì bán. Đến khoảng 9 giờ 20 phút cùng ngày bán cho D 01 gói giá 100.000đồng thì bị bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 242/GĐMT ngày 31/8/2021 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,04 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Tráng A D và 12,54 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lù Thị M gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 15/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn truy tố bị cáo Lù Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lù Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lù Thị M từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù và phạt bổ sung từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ.
Về vật chứng: Đề nghị áp điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng.
Tại phiên tòa hôm nay người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lù Thị M 08 năm 09 tháng tù và không phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo Lù Thị M khai nhận: Do muốn kiếm tiền bất chính nên khoảng 09 giờ 20 phút ngày 26/8/2021 bị cáo đã Th hiện hành vi mua bán trái phép 12,58 gam Heroine.
Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết Lù Thị M, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai truy tố là đúng người, đúng tội.
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo hiểu rõ ma túy là loại độc dược nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là người vợ, người mẹ, lẽ ra bị cáo phải làm gương tốt cho con, cháu học tập nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện làm kinh tế thu nhập chính đáng nuôi bản thân và gia đình mà muốn kiếm tiền bất chính, bị cáo bỏ ra số tiền 3.000.000đ mua được 01 gói ma túy có khối lượng 12,58 gam Heroine, mục đích để bán kiếm lời, đến sáng ngày 26/8/2021 bị cáo đang Th hiện hành vi bán trái phép 01 gói ma túy có khối lượng 0,04 gam Heroine cho D thì bị bắt quả tang, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần có một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lù Thị M không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Lù Thị M. Bị cáo không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự nhưng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt bổ sung để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
. Đối với Tráng A D ngày 26/8/2021 đã mua 0,04 gam Heroine để sử dụng. Công an huyện Văn Bàn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải quyết.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lù Thị M, Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập vấn đề giải quyết.
Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lù Thị M 08 năm 09 tháng tù và không phạt tiền đối với bị cáo. Xét thấy, đề nghị mức hình phạt của người bào chữa cho bị cáo là chưa tứng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và bi cáo sử dụng số tiền 3.000.000đ để mua ma túy bán kiếm lời nên không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình, hình phạt bổ sung để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
. Về vật chứng:
Đối với 12,58 gam Heroine Cơ quan giám định đã trích mẫu sử dụng giám định 0,68 gam Heroine là có căn cứ nên không đề cập vấn đề giải quyết.
Đối với 11,9 gam Heroine còn lại cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 100.000 đồng là tiền bán ma túy trái phép mà có cần tịch thu để nộp ngân sách nhà nước;
Đối với 01 túi vải thổ cẩm thu giữ của Lù Thị M, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã Th hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã Th hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lù Thị M phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lù Thị M 09 (chín) năm tù và phạt 5.000.000đ (năm triệu đồng). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 26/8/2021.
Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu số tiền 100.000đ(một trăm nghìn đồng) thu giữ của Lù Thị M là tiền bán ma túy mà có để nộp ngân sách nhà nước (chi tiết vật chứng như tại biên bản giao nhận vật chứng kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 18/10/2021).
+ Tich thu 11,9 gam Heroine và 01 túi vải thổ cẩm thu giữ của Lù Thị M để tiêu hủy(chi tiết các vật chứng nêu trên như tại biên bản giao nhận vật chứng kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn ngày 18/10/2021).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lù Thị M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo Bản án: Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được Th hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01 ); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai ( 01); - Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn ( 01 ); - Công an huyện Văn Bàn ( 02 ); - Bị cáo ( 01 ); - Người bào chữa; - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai (01 ); - THAHS, THADS huyện Văn Bàn ; - V.Phòng, C.Án, T.Phán (03 ). - Lưu H.sơ vụ án ( 02 ). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Lựa |