- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Na…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2021/HS-ST Ngày 27 - 9 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Tuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Hằng
2. Bà Lê Thị Dệt
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Bạo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2021/TLST-HS ngày 07/9/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐXXST-HS ngày 15/9/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành T, sinh năm 1987, tại thành phố B, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
Năm 2006 Nguyễn Thành T bị Tòa án nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 08/01/2008 chấp hành xong bản án trở về địa phương.
Năm 2009 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Điều 138 BLHS năm 1999 giá trị tài sản trộm cắp là 615.000đ). Do chuyển biến tình hình, Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và căn cứ Nghị quyết 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội. Ngày 28/7/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử phúc thẩm tuyên Nguyễn Thành T không phạm tội Trộm cắp tài sản (do tài sản Trung trộm cắp dưới 2.000.000đ), đình chỉ vụ án về mặt hình sự và trả tự do ngay tại phiên tòa.
Tháng 4/2011, Nguyễn Thành T bị đưa vào cơ sở giáo dục TH, huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc với thời hạn 24 tháng, theo Quyết định số 384/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 của UBND tỉnh Điện Biên do có hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam từ ngày 24/4/2021 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá (có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Tất Th1, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hoá
- Ông Lê Huy H, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn S, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hoá.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 8 giờ 00 phút ngày 24/4/2021, Tổ công tác Công an huyện Nông Cống phối hợp với Công an xã K làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại thôn C, xã K thì phát hiện Nguyễn Thành T, sinh năm 1987, trú tại thôn L, xã K, huyện N điều khiển xe mô tô BKS 36B7-945.84 có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ trên tay trái của Nguyễn Thành T 02 (hai) gói nhỏ, bên ngoài bọc bằng giấy màu trắng, có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột dạng cục vụn, màu trắng ngà (nghi là ma túy). Nguyễn Thành T khai nhận 02 (hai) gói giấy trên là ma túy, T vừa mua được tại huyện Đ với giá 300.000đ, mục đích để sử dụng. Công an huyện Nông Cống đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thành T, thu giữ xe mô tô BKS 36B7-945.84 và niêm phong 02 (hai) gói ma túy (ký hiệu M1) theo quy định.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thành T tại thôn L, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa Cơ quan CSĐT không thu giữ thêm đồ vật, tài liệu nào liên quan đến hành vi phạm tội.
Ngày 26/4/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ được. Tại Bản kết luận giám định số: 1470/PC09 ngày 287/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột dạng cục vụn, màu trắng ngà của phong bì niêm phong ký hiệu M1, gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,206g (Không phẩy hai không sáu gam) loại heroine.
Về nguồn gốc số ma túy, quá trình điều tra Nguyễn Thành T khai nhận: Do nghiện ma túy nên sáng ngày 24/4/2021 Nguyễn Thành T đã mượn chiếc xe mô tô BKS 36B7-945.84 của em trai là Nguyễn Tất Th1 đi từ nhà ở thôn L, xã K, huyện N sang huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến địa phận huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa (T không biết cụ thể là địa phận xã nào) thì gặp một người đàn ông không quen biết, đeo khẩu trang và đội mũ kín đầu. T hỏi người này mua 02 (hai) gói ma túy (heroine) thì người này đồng ý bán cho T với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, T cầm 02 (hai) gói ma túy trên tay trái rồi quay xe đi về nhà. Khi T đi về đến địa phận thôn C, xã K, huyện N thì bị Tổ công tác Công an huyện Nông Cống và Công an xã K đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trên tay trái của T 02 gói ma túy mà T mua được trước đó.
Đối với người đàn ông, đeo khẩu trang đã bán ma túy cho Nguyễn Thành T ở huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa là người mà T mới gặp lần đầu và không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý theo quy định.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 36B7-945.84 Nguyễn Thành T sử dụng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc sở hữu của anh Nguyễn Tất Th1 (là em trai của T). Việc T mượn xe và sử dụng để đi mua ma túy anh Th1 không biết. Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 06/9/2021, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Thành T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (Viết tắt là BLHS).
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Nguyễn Thành T mức án từ 15 đến 20 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của CQĐT Công an huyện Nông Cống và Điều tra viên; của VKSND huyện Nông Cống và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định được: Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 24/4/2021 tại thôn C, xã K, huyện N, Tổ công tác Công an huyện Nông Cống và Công an xã K phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thành T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,206g (Không phẩy hai không sáu gam) loại heroine. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trước đây bị cáo đã khai nhận tại CQĐT, phù hợp với tang vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án.
Xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Các tội phạm về ma tuý đang là vấn nạn trong đời sống xã hội, làm tha hoá về mặt đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ tầng lớp thanh thiếu niên, làm gia tăng tình hình tội phạm và các loại tệ nạn khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung. Hành vi tàng trữ trái phép 0,206g (Không phẩy hai không sáu gam) loại heroine (như kết luận giám định) của Nguyễn Thành T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì thỏa mãn nhu cầu nghiện hút của bản thân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Đủ cơ sở để HĐXX khẳng định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với bị cáo là chính xác.
Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu: Năm 2006 Nguyễn Thành T bị Tòa án nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tháng 4/2011, Nguyễn Thành T bị đưa vào cơ sở giáo dục TH, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc với thời hạn 24 tháng, theo Quyết định số 384/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 của UBND tỉnh Điện Biên do có hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy cần áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội. Áp dụng Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Nguyễn Thành T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 Phong bì, niêm phong, do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong đựng 0,188g heroine mẫu vật còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu và tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 329 BLTTHS:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Nguyễn Thành T 16 (Mười sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/4/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu và tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật hoàn trả lại sau giám định.
Vật chứng của vụ án được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nông Cống và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống lập ngày 23/9/2021.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc Nguyễn Thành T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/9/2021).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Nông Cống; - Công an huyện Nông Cống; - Cơ quan THA hình sự; - Chi cục THADS huyện Nông Cống; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Xuân Tuyên |