vanban.org

Bản án 52/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 52/2021/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ML
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2021/HS-ST
Ngày 28 - 4 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Mầng

Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 28/4/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:

Quàng Thị Ng, sinh năm 1975, tại: xã CL, huyện ML, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản L, xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T (Đã chết) và bà Lò Thị S (Đã chết); có chồng là Quàng Văn S, sinh năm 1972; có 03 con, sinh lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án: Ngày 24/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La tuyên phạt 28 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cầm Kim Loan – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Quàng Văn Ch; địa chỉ: Bản M, xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch: Ông Lò Văn Bang; địa chỉ: Tiểu khu 3, thị trấn Ít Ong, huyện ML, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/01/2021, tại nhà của Quàng Thị Ng, sinh năm 1975, ở bản L, xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La đã bắt quả tang Quàng Thị Ng đang có hành vi bán trái phép 01 (Một) gói nilon màu xanh, bên trong chứa cục bột màu trắng, nghi là Heroine cho Quàng Văn Ch, sinh năm 1999, trú tại bản M, xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La. Ngay sau khi bị bắt quả tang, Quàng Văn Ch đã giao nộp 01 (một) gói nilon màu xanh có chứa cục bột màu trắng, Ch khai là Heroine vừa mua được của Quàng Thị Ng, đồng thời, Quàng Thị Ng đã lấy từ trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người ra giao nộp gồm: 03 (ba) gói nilon màu xanh, bên trong mỗi gói đều chứa cục bột màu trắng, Quàng Thị Ng khai nhận là Heroine, 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong có chứa 12 (Mười hai) viên nén màu hồng hình tròn, trên các viên nén đều có kí hiệu chữ WY, Quàng Thị Ng khai nhận là Hồng phiến và 200.000VNĐ là số tiền mà Quàng Thị Ng vừa bán ma túy cho Quàng Văn Ch mà có. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện ML để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra Quàng Thị Ng khai nhận: Khoảng 8 giờ 00 phút sáng ngày 05/01/2021, Quàng Thị Ng, sinh năm 1975, trú tại: bản L, xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La đi bộ sang bản C, xã CT, huyện M, tỉnh Y để tìm mua ma túy. Khi sang đến địa phận bản C thì Ng gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đi bộ trên đường. Qua nói chuyện, Quàng Thị Ng mua được của người đàn ông này 03 (ba) gói nilon màu xanh bên trong chứa cục bột màu trắng và 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa 12 (Mười hai) viên nén màu hồng hình tròn, trên các viên nén đều có kí hiệu chữ WY, với giá 7.000.000VNĐ (Bảy triệu đồng), Ng hiểu các cục bột màu trắng là Heroine và các viên nén màu hồng là Hồng phiến. Sau khi mua xong, Ng cất giấu ở túi áo khoác bên trái đang mặc trên người, sau đó đi bộ về nhà ở bản L, xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La. Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 09/01/2021, Quàng Thị Ng đang ở nhà tại bản L, xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La thì có Quàng Văn Ch, trú tại bản M, xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La đến hỏi mua Heroine, Ch đưa cho Ng 200.000VNĐ, sau khi nhận tiền, Ng đã lấy ra từ trong túi áo ngực bên trái đang mặc trên người gói Heroine vừa mua được, dùng tay bẻ một ít Heroin rồi gói vào 01 (một) mảnh nilon màu xanh và đưa cho Ch, số Heroine còn lại, Ng gói lại vào mảnh giấy gói ban đầu và cất vào trong túi áo khoác đang mặc trên người. Khi Ch vừa nhận Heroine từ Ng và cất vào túi áo thì bị lực lượng công an xã HT phát hiện bắt quả tang. Cùng ngày, tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Quàng Thị Ng nhưng không thu giữ gì thêm.

Ngày 10/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện ML và phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, tách bì và cân tịnh xác định khối lượng và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Quàng Thị Ng và Quàng Văn Ch. Kết quả:

- Cục bột màu trắng bên trong 01 (Một) gói nilon màu xanh thu giữ của Quàng Văn Ch có khối lượng là 0,05 (Không phẩy không năm) gam, lấy hết 0,05 gam làm mẫu giám định ký hiệu NC.

- Cục bột màu trắng bên trong 01 (Một) gói nilon màu xanh thứ nhất thu giữ của Quàng Thị Ng có khối lượng là 3,65 (Ba phảy sáu mươi lăm) gam, lấy 0,22 (Không phảy hai mươi hai) gam làm mẫu giám định ký hiệu N1. Còn lại 3,43 (Ba phảy bốn mươi ba) gam kí hiệu là N1A nhập kho vật chứng.

- Cục bột màu trắng bên trong 01 (Một) gói nilon màu xanh thứ hai thu giữ của Quàng Thị Ng có khối lượng là 3,84 (Ba phảy tám mươi tư) gam, lấy 0,34 (Không phảy ba mươi tư) gam làm mẫu giám định ký hiệu N2. Còn lại 3,50 (Ba phảy năm mươi) gam kí hiệu là N2A nhập kho vật chứng.

- Cục bột màu trắng bên trong 01 (Một) gói nilon màu xanh thứ ba thu giữ của Quàng Thị Ng có khối lượng là 3,62 (Ba phảy sáu mươi hai) gam, lấy 0,43 (Không phảy bốn mươi ba) gam làm mẫu giám định ký hiệu N3. Còn lại 3,19 (Ba phảy mười chín) gam kí hiệu là N3A nhập kho vật chứng.

- 12 (Mười hai) viên nén màu hồng, hình tròn, trên các viên nén đều có ký hiệu chữ WY trong gói nilon màu trắng thu giữ của Quàng Thị Ng có khối lượng là 1,29 (Một phảy hai mươi chín) gam, lấy 05 (năm) viên nén có khối lượng 0,53 (Không phảy năm mươi ba) gam làm mẫu giám định kí hiệu là N4, còn lại 07 (bảy) viên nén có khối lượng là 0,76 (Không phảy bảy mươi sáu) gam kí hiệu là N4A nhập kho vật chứng.

Ngày 10/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML đã ra quyết định trưng cầu giám định số: 22/ĐCSHS-KTMT đối với mẫu vật ký hiệu NC, N1, N2, N3, N4 và quyết định trưng cầu giám định số: 23/ĐCSHS-KTMT đối với 02 (Hai) tờ tiền mệnh giá 100.000VNĐ (Một trăm nghìn đồng).

Tại kết luận giám định số: 308 ngày 11/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu NC, N1, N2, N3 là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là NC = 0,05 gam, N1 = 0,22 gam, N2 = 0,34 gam, N3 = 0,43 gam; Mẫu gửi giám định kí hiệu N4 là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,53 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 11,16 gam; Loại Heroine và 1,29 gam; Loại Methamphetamine.

Theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì hai chất ma túy Heroine và Methamphetamine thu giữ của Quàng Thị Ng được quy định trong cùng một điểm (điểm i khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự) nên khối lượng chất ma túy cộng lại là 12,45 (Mười hai phẩy bốn mươi lăm) gam.

Tại kết luận giám định số: 365 ngày 19/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: 02 (Hai) Tờ tiền mệnh giá 100.000VNĐ (Một trăm nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật. Hoàn lại toàn bộ số tiền gửi giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Quàng Thị Ng không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận giám định nêu trên.

Đối với Quàng Văn Ch, cơ quan chức năng đã chuyển áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính.

Thực hiện điều tra đối với người bán trái phép chất ma túy cho Quàng Thị Ng, ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, điều tra, xử lý theo vụ án.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS-ML ngày 08/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Quàng Thị Ng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, do hám lời, bị cáo đã mua ma túy cất giữ, mục đích để bán thì bị bắt như cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Quàng Thị Ng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị Ng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm p khoản 2

Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 9 (Chín) năm 6 (Sáu) tháng đến 10 (Mười) năm 6 (Sáu) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: Số Heroine còn lại sau giám định gồm: 3,43 gam kí hiệu là N1A, 3,50 gam kí hiệu là N2A, 3,19 gam kí hiệu là N3A; 07 (bảy) viên nén màu hồng có khối lượng là 0,76 gam kí hiệu là N4A; 01 phong bì niêm phong ban đầu, 04 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng; tịch thu và nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 200.00VNĐ (Một trăm nghìn đồng).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn tiền án phí cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo Quàng Thị Ng tranh luận: Đồng ý với nội dung cáo trạng và lời khai bị cáo đã trình bày, tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản đáng giá; bị cáo không biết chữ, hiểu biết về đời sống xã hội và pháp luật rất hạn chế; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất, không phạt bổ sung và miễn tiền án phí cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: Hồi 12 giờ 00 phút ngày 09/01/2021, Quàng Thị Ng, sinh năm 1975, trú tại: Bản L, xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La đã có hành vi bán trái phép 01 (Một) gói nilon màu xanh, bên trong chứa cục bột màu trắng, nghi là Heroine cho Quàng Văn Ch, sinh năm 1999, trú tại bản M, xã HT, huyện ML, tỉnh Sơn La thì bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, qua đấu tranh, Ng đã giao nộp 03 (ba) gói nilon màu xanh bên trong chứa Heroine và 01 (một) gói nilon màu trắng có chứa 12 viên nén là Hồng phiến. Tại kết luận giám định số: 308 ngày 11/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định kí hiệu NC, N1, N2, N3 là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là NC = 0,05 gam, N1 = 0,22 gam, N2 = 0,34 gam, N3 = 0,43 gam; Mẫu gửi giám định kí hiệu N4 là ma túy; Loại Methamphetamine” và kết luận giám định số: 365 ngày 19/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “02 (Hai) Tờ tiền mệnh giá 100.000VNĐ (Một trăm nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Như vậy, Quàng Thị Ng là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giấu, cất giữ trái phép nhằm mục đích để bán với 02 chất ma tuý (Heroine và Methamphetamine) có tổng khối lượng là 12,45 gam, tương đương với khối lượng chất ma tuý quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự “i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MĐMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” là đã phạm tình tiết định khung theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “2. Người nào phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này”.

Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo đã được Đảng và Nhà nước tuyên truyền, vận động, cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý; đã được cải tạo giáo dục rèn luyện bản thân (đã chấp hành án phạt tù); là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trước và trong khi phạm tội, bị cáo ý thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng do hám lời, bị cáo đã coi thường kỉ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền về kiểm soát và quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo không chỉ cất giấu, cất giữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 12,45 gam mà còn bán trái phép chất ma túy; tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành, hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất, suy giảm khả năng lao động do nghiện ma túy của con người, ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo Ng phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quàng Thị Ng có 01 tiền án: Ngày 24/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La tuyên phạt 28 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, sau khi chấp hành xong hình phạt tù (nhưng chưa được xóa án tích), ngày 09/01/2021, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người dân lao động, người dân tộc thiếu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, cần xem xét giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy), không có khả năng tự cải tạo. Do đó, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh tài sản và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: gia đình của bị cáo thuộc hộ nghèo của xã HT, không có tài sản giá trị; bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 09/01/2021 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy hết 0,05 gam ma túy thu giữ của Quàng Văn Ch làm mẫu giám định ký hiệu là NC, 0,22 gam trong gói nilon màu xanh thứ nhất làm mẫu giám định ký hiệu N1, 0,34 gam trong túi nilon màu xanh thứ hai làm mẫu giám định ký hiệu N2, 0,43 gam trong túi nilon màu xanh thứ ba làm mẫu giám định ký hiệu N3 và 05 viên nén màu hồng có khối lượng 0,53 gam làm mẫu giám định kí hiệu là N4. Kết quả: “Mẫu gửi giám định kí hiệu NC, N1, N2, N3 là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là NC = 0,05 gam, N1 = 0,22 gam, N2 = 0,34 gam, N3 = 0,43 gam; Mẫu gửi giám định kí hiệu N4 là ma túy; Loại Methamphetamine. Tổng khối lượng thu giữ là 11,16 gam; Loại Heroine và 1,29 gam; Loại Methamphetamin. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”. Còn lại 3,43 gam kí hiệu là N1A, 3,50 gam kí hiệu là N2A, 3,19 gam kí hiệu là N3A, 07 (bảy) viên nén có khối lượng là 0,76 (Không phảy bảy mươi sáu) gam kí hiệu là N4A đang lưu kho vật chứng, là vật cấm tàng trữ, lưu hành, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 04 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng là vật dụng bị cáo sử dụng cất giữ trái phép chất ma túy, là vật chứng không có giá trị, do đó, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với số tiền 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) bị cáo Ng đã bán trái phép chất ma túy cho Quàng Văn Ch là số tiền do bị cáo phạm tội mà có, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan điều tra không thu thập thêm được chứng cứ nào khác nên không có cơ sở chứng minh xử lý theo vụ án.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,05 gam Heroine của Quàng Văn Ch, mục đích để sử dụng. Xét thấy, Ch là người nghiện ma túy (theo Biên bản thử chất ma túy), thực hiện hành vi mua ma túy của Quàng Thị Ng và bị bắt quả tang khi đang cất giữ 0,05 gam Heroine, Ch chưa có tiền án, tiền sự, lượng ma túy tàng trữ chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính đối với Quàng Văn Ch là phù hợp.

Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của xã tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo xin miễn nộp tiền án phí cho bị cáo; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị Ng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Quàng Thị Ng 9 (Chín) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 09/01/2021). Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy: 3,43 (Ba phảy bốn mươi ba) gam Heroine kí hiệu là N1A, 3,50 (Ba phảy năm mươi) gam Heroine kí hiệu là N2A, 3,19 (Ba phảy mười chín) gam Heroine kí hiệu là N3A và 07 (bảy) viên Hồng phiến có khối lượng là 0,76 (Không phảy bảy mươi sáu) gam kí hiệu là N4A gam; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 04 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon màu trắng.

- Tịch thu và nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (Một trăm nghìn đồng) của bị cáo Quàng Thị Ng do bán heroine mà có.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ML và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Thị Ng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/4/2021).

Cỡ chữ