- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 52/2021/HS-ST Ngày: 14/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hồng Thái và bà Nguyễn Thị Thược.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Động.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 14/11/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2021/TLST- HS ngày 22/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2021/QĐXXST-HS ngày 30/11/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1974 tại Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn Phú Cường, xã Phú Thịnh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Hữu Quy (đã chết) và bà Đỗ Thị Cầu; Vợ: Nguyễn Thị H; có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
BÞ cáo bị b¾t t¹m gi÷ từ ngµy 17/9/2021, chuyển tạm giam ngày 23/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ C an huyện Kim Động. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; trú tại: Thôn Trung Hòa, xã Phú Thịnh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Lê Văn C, sinh năm 1994; trú tại: Thôn Phú Khê, xã Thọ Vinh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Trần Văn T, sinh năm 1991; trú tại: Thôn Đức Quang, xã Đức Hợp, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
(Người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 17/9/2021, Nguyễn Hữu Q điều khiển xe mô tô biển số 89AA – 087.09 từ nhà đến huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên để mua ma túy về sử dụng. Q điều khiển xe mô tô đi được khoảng 3 - 4km (không nhớ được địa điểm nào nhưng vẫn thuộc huyện Khoái Châu) thì gặp một người đàn ông nhìn giống người nghiện ma túy đang đứng ở đường. Q dừng xe hỏi người này có ma túy Heroine bán không, người này hỏi mua bao nhiêu, Q nói bán cho 1.500.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa cho Q 01 gói nilon màu đỏ, bên trong là lớp giấy kẻ ô ly có chứa chất màu trắng dạng cục. Q xác định đó là Heroine liền gói lại, giấu vào khẩu trang đang đeo trên mặt rồi điều khiển xe mô tô tìm nơi sử dụng. Khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, Q điều khiển xe đến đường ĐT 378 thuộc thôn Phú Khê, xã Thọ Vinh, huyện Kim Động thì bị tổ C tác của C an huyện Kim Động bắt quả tang, phát hiện trong khẩu trang đang đeo của Q có 01 gói nilon màu đỏ, bên trong là lớp giấy kẻ ô ly có chất màu trắng dạng cục. Q khai là ma túy Heronine vừa mua về để sử dụng. Tổ C tác đã tiến hành niêm phong gói nilon ma túy được ký hiệu A1.
Kết luận giám định số 273/MT – PC09 ngày 20/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - C an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu A1, có khối lượng là: 0,432 gam là ma túy, là loại Heroine.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Q, do Q khai không biết tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Kim Động không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Về vật chứng, tài liệu, đồ vật liên quan: 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật gửi giám định ghi số 273/MT – PC 09 đã nhập kho vật chứng thuộc C an huyện Kim Động; 01 xe mô tô biển số 89AA – 087.09 do Q điều khiển đi mua ma túy, đã làm rõ là tài sản của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1978 (là vợ của Q), chị H không biết Q sử dụng đi mua ma túy và Q cũng không giấu ma túy ở xe mô tô này. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra – C an huyện Kim Động đã trả lại chị H chiếc xe cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký của xe mô tô trên.
Cáo trạng số 49/CT-VKSKĐ ngày 22/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố Nguyễn Hữu Q về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Q thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động trình bày luận tội giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị HĐXX: Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 17/9/2021 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra - C an huyện Kim Động và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng...; Bản kết luận giám định số 273/MT – PC09 ngày 20/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - C an tỉnh Hưng Yên đối với mẫu chất thu giữ của Q;...Như vậy, HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 12 giờ 10 phút, ngày 17/9/2021, tại đường ĐT 378 thuộc thôn Phú Khê, xã Thọ Vinh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Hữu Q đã tàng trữ trái phép 0,432 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Q đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của nhà nước đối với các chất ma túy và chất gây nghiện. Tội phạm ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy nên ý thức rõ tác hại của ma túy đối với thể lực và trí lực của con người nhưng vì nhu cầu của bản thân nên vẫn bất chấp các quy định của pháp luật, thực hiện việc phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Về nhân thân: Bị cáo Q là đối tượng nghiện chất ma túy. Do đó không được coi là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo Nguyễn Hữu Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với bị cáo, HĐXX xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định ghi số 273/MT – PC 09 của Phòng kỹ thuật hình sự- C an tỉnh Hưng Yên là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Q, do Q khai không biết tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Kim Động không có căn cứ để xác minh, xử lý là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo Q phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
3. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Q 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/9/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật gửi giám định ghi số 273/MT – PC09.
(Tình trạng, đặc điểm chi tiết vật chứng nêu trên được thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 26/11/2021 giữa C an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Động).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh (Phòng KTNV & THA); - VKSND huyện Kim Động; - Cơ quan điều tra và bộ phận HSNV C an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |