vanban.org

Bản án 52/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N-H"
  • Tòa quyết gì? của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

Số: 52/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 29/12/2021

TÒ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT HUYỆN PHÚ GIÁO N M V/v ly hôn, tranh ch p về nuôi con NHÂN D NH N ỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M TÒ ÁN

NHÂN DÂN H

UYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH D ƠNG

- hành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩ phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mùi. Các Hội thẩ nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng; Ông Nguyễn Trường Hải. - hư ký phiên toà: Ông Hồ Phúc Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 229/2021/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh ch p về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/11/2021, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Út N, sinh năm 2001; Địa chỉ: Tổ A, p B, xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt. - Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1993.Địa chỉ: Tổ A, p B, xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai bà Nguyễn Út N trình bày: - Về hôn nhân: Bà và ông Trần Văn H chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/5/2019 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Việc sống chung và đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng sau đó thì không hạnh phúc nữa. Nguyên nhân do vợ chồng b t đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau các v n đề trong cuộc sống. Bà đã cố gắng hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng không được. Bà và ông H đã ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Hiện tại tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà quyết định ly hôn với ông Trần Văn H. - Về con chung: Ông bà có một con chung tên Trần Như N, sinh ngày 31/01/2018. Bà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông H c p dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Trần Văn H được Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo niêm yết gi y triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, không có ý kiến với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo phát biểu ý kiến: - Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, của những người tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. - Về nội dung vụ án: Về hôn nhân: Bà N và ông H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, do có mâu thuẫn vợ chồng, hiện không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nguyên đơn yêu cầu được ly hôn, bị đơn không có ý kiến với yêu cầu của nguyên đơn. Nhận th y mục đích hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử ch p nhận yêu cầu của nguyên đơn cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn. Về con chung: Bà N và ông H có 01 con chung là Trần Như N, sinh ngày 31/01/2018. Hiện cháu N đang sống ổn định với bà N. Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Trần Như N cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông H c p dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; sau khi Kiểm sát viên phát biểu về việc ch p hành pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của đương sự, về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử

nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh ch p về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khi thụ lý vụ án bị đơn cư trú tại xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Nguyễn Út N có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Trần Văn H đã được Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo niêm yết hợp lệ gi y triệu tập lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về hôn nhân: Nguyên đơn, bị đơn chung sống với nhau trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương ngày 28/5/2019 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống nguyên đơn trình bày mâu thuẫn xảy ra do nguyên đơn và bị đơn không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, hiện đã ly thân và không còn

quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Bị đơn không có ý kiến với yêu cầu của nguyên đơn. Tại Biên bản xác minh ngày 16/9/2021 được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận: Mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Út N và ông Trần Văn H là do hai ông bà không hợp nhau, tuổi trẻ nông nổi, thường xuyên cãi nhau. Hiện Bà N và ông H đã ly thân từ đầu năm 2021, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Hội đồng xét xử xét th y, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc xin ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, bị đơn không có ý kiến với yêu cầu của nguyên đơn, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử ch p nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [4] Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao gi y khai sinh, xác định nguyên đơn và bị đơn có với nhau 01 con chung tên là Trần Như N, sinh ngày 31/01/2018. Nguyên đơn yêu cầu được nuôi con chung, bị đơn không có ý kiến về việc nuôi con. Hội đồng xét xử xét các điều kiện về nuôi con, sự ổn định tâm lý của trẻ nên giao con chung Trần Như N cho nguyên đơn bà Nguyễn Út N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. [5] Về c p dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Nguyễn Út N không yêu cầu bị đơn ông Trần Văn H c p dưỡng nuôi con. [6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử ch p nhận. [8] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2 Điều 244, các Điều 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; - Các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Út N đối với bị đơn ông Trần Văn H.

1. Về hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Út N được ly hôn với bị đơn ông Trần Văn H. 2. Về con chung: Giao con Trần Như N, sinh ngày 31/01/2018 cho nguyên đơn bà Nguyễn Út N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Út N không yêu cầu ông Trần Văn H c p dưỡng nuôi con. Không ai được cản trở ông Trần Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức c p dưỡng nuôi con khi đương sự có yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. 4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Út N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được kh u trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2016/0044122 ngày 27 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. 5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ