vanban.org

Bản án 52/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng h nh s : Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s th người được thi hành dân s , người phải thi hành dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng h nh s : Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật H nh s; Điều 51 Bộ luật H nh s; Luật Phòng, chống ma túy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bản án số: 52/2020/HS-ST
Ngày: 29-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Khoa

Ông Hoàng Đắc Hân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét x s th m c ng khai vụ án h nh s s th m thụ lý số: 50/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số: 52/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Lưu Quang V, sinh ngày 19 tháng 8 năm 1968 tại thành phố Hải Phòng; N i cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Tr nh độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Gia T1 và con bà Nguyễn Thị V1 (đều đã chết); Đã ly h n chị Phạm Thị V2 và có 03 con; Tiền án: Bản án số 90/2013/HSST ngày 17/12/2013, Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng S n x phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật H nh s năm 1999, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 11/6/2013, chấp hành xong h nh phạt tù ngày 11/3/2018, thi hành xong án phí ngày 17/12/2013; Tiền s : Không; Nhân thân: Bản án số 232/2006/HSST ngày 23/11/2006, Tòa án nhân thành phố Hải Phòng x phạt 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 17/5/2006, chấp hành xong h nh phạt tù ngày 01/9/2009, phạt bổ sung 5.000.000 đồng đã thi hành xong ngày 06/12/2007; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2019 đến ngày 26/12/2019 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Bùi Văn T2 sinh năm 1991; N i cư trú: Th n M, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Anh Ng Văn K sinh năm 1991; N i cư trú: Th n Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Anh Đỗ Văn T1 sinh năm 1988; N i cư trú: Th n X, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Anh Đỗ Mạnh C sinh năm 1991; N i cư trú: Th n X, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu Quang V nghiện ma túy từ năm 2008, loại ma túy thường s dụng là Heroine mua tại khu v c đường tàu nội thành Hải Phòng của người kh ng quen biết. Do cần tiền để mua ma túy s dụng nên Lưu Quang V bán ma túy để kiếm lời, địa điểm bán ma túy là n i ở của Lưu Quang V tại khu v c Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 16/12/2019, Lưu Quang V bán cho Bùi Văn T2 và Đỗ Văn T1 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng. Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 17/12/2019, Lưu Quang V bán cho Bùi Văn T2 và Đỗ Văn T1 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 18/12/2019, Lưu Quang V bán cho Đỗ Văn T1 và Đỗ Mạnh C 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng. Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 19/12/2019, Lưu Quang V bán cho Bùi Văn T2 và Ng Văn K 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng. Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 20/12/2019, Lưu Quang V một m nh đi sang khu v c đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người phụ nữ kh ng quen biết 01 gói Heroine với giá 900.000 đồng để s dụng và bán lại cho người khác. Mua được ma túy, Lưu Quang V mang về n i ở chia nhỏ, đóng thành 05 gói để bán với giá 300.000 đồng 01 gói. Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 20/12/2019, Bùi Văn T2 dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen gắn sim số 0869.203.733 gọi đến điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen gắn sim số 0355.899.028 của Lưu Quang V để mua 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng. Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 20/12/2019, Lưu Quang V vừa bán cho Bùi Văn T2 và Ng Văn K 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng th bị bắt quả tang.

Thu giữ của Lưu Quang V: 01 túi nilon màu xanh kích thước 04cm x 10cm bên trong có 03 gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy tại túi quần phía sau bên trái, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen gắn sim số 0355.899.028, số tiền 1.300.000 đồng. Thu giữ của Bùi Văn T2: 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy tại túi quần phía trước bên phải, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen gắn sim số 0869.203.733. Tiến hành khám xét kh n cấp n i ở của Lưu Quang V thu giữ: 01 cục chất bột màu trắng nghi là chất ma túy; 01 con dao lam; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6; 01 tờ giấy loại giấy vở học sinh đã bị cắt một góc, phần bị cắt kích thước 05cm x 05cm; 01 bộ đồ s dụng ma túy đá t chế; 01 chiếc kéo và số tiền 2.400.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 625/KLGĐ ngày 23/12/2019 của Phòng Kỹ thuật h nh s C ng an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu của Bùi Văn T2 là ma túy, có khối lượng là 0,0081 gam, là loại Heroine. Chất bột màu trắng thu của Lưu Quang V là ma túy, có khối lượng 1,0570 gam, là loại Heroine. Chất bột màu trắng thu khi khám nhà Lưu Quang V là ma túy, có khối lượng 0,1536 gam, là loại Heroine.

Về nguồn gốc các đồ vật thu giữ khi khám xét nhà Lưu Quang V gồm: Dao lam, kéo, giấy, bộ đồ s dụng ma túy đá t chế là tài sản của Lưu Quang V dùng để bán và s dụng ma túy. Về nguồn gốc số tiền 3.700.000 đồng thu giữ khi bắt giữ và khám xét nhà Lưu Quang V: Có 300.000 đồng là tiền Lưu Quang V vừa bán ma túy cho Bùi Văn T2, còn lại là tiền của con gái Lưu Quang V cho để mua thuốc điều trị bệnh. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 thu giữ khi khám xét nhà Lưu Quang V là của Lưu Quang V, kh ng liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với chiếc điện thoại Iphone 6 và số tiền 3.400.000 đồng quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Lưu Quang V, kh ng liên quan đến hành vi phạm tội nên C quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Lưu Quang V.

Vật chứng vụ án: 01 phong b niêm phong chứa chất ma túy và vỏ bao b còn lại sau giám định, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ nh a màu đen đã qua s dụng, 01 điện thoại di động Samsung vỏ nh a màu đen đã qua s dụng, 01 dao lam đã qua s dụng, 01 bộ đồ s dụng ma túy đá t chế đã qua s dụng, 01 kéo đã qua s dụng, 01 tờ giấy vở học sinh bị cắt một góc phần bị cắt có kích thước 05cm x 05cm đã qua s dụng, số tiền 300.000 đồng.

Cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 26 tháng 5 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Lưu Quang V về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật H nh s .

Tại phiên tòa:

Khi xét hỏi bị cáo chỉ khai và thừa nhận bán ma túy vào các ngày 17, 20 tháng 12/2019 nhưng khi sang tranh luận bị cáo thừa nhận đã th c hiện hành vi như nội dung nêu trên, ma túy đã thu giữ ngày 20/12/2019 của bị cáo cất giữ thừa nhận mục đích để bán, Cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo là đúng, đồng ý với tội danh, khung hình phạt mà Kiểm sát viên luận tội, kết tội đối với bị cáo, đề nghị giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Bùi Văn T2, Ng Văn K, Đỗ Văn T1, Đỗ Mạnh C đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời trình bày và đã được th m tra lại thể hiện: Bùi Văn T2, Ng Văn K, Đỗ Văn T1, Đỗ Mạnh C đều là người nghiện ma túy, kh ng có mâu thuẫn g và biết Lưu Quang V, cùng nhau góp chung tiền mua ma túy của Lưu Quang V để s dụng, loại ma túy mua là Heroine, số lượng ma túy, giá tiền mua từng lần thỏa thuận cụ thể với nhau, địa điểm mua bán ma túy tại n i ở của Lưu Quang V. Bùi Văn T2, Đỗ Văn T1 là người tr c tiếp liên lạc với Lưu Quang V để mua bán ma túy. Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 16/12/2019 Bùi Văn T2 và Đỗ Văn T1 mỗi người góp 250.000 đồng mua 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng của Lưu Quang V, sau khi mua xong thì s dụng hết. Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 17/12/2019 Bùi Văn T2 và Đỗ Văn T1 mỗi người góp 150.000 đồng mua 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng của Lưu Quang V, sau khi mua xong th s dụng hết. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 18/12/2019, Đỗ Văn T1 và Đỗ Mạnh C mỗi người góp 250.000 đồng mua 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng của Lưu Quang V, sau khi mua xong th s dụng hết. Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 19/12/2019 Bùi Văn T2 góp 100.000 đồng và Ng Văn K góp 200.000 đồng mua 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng của Lưu Quang V, sau khi mua xong th s dụng hết. Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 20/12/2019 Bùi Văn T2 góp 100.000 đồng và Ng Văn K góp 200.000 đồng mua 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng của Lưu Quang V th bị bắt quả tang.

Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định v tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, h nh phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật H nh s , những t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh s ; x lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những t nh tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án th đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét x : Áp dụng điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật H nh s , x phạt bị cáo Lưu Quang V với mức án từ 09 năm tù đến 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Kh ng áp dụng h nh phạt bổ sung đối với bị cáo. Về biện pháp tư pháp và x lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật H nh s và Điều 106 Bộ luật Tố tụng H nh s tịch thu tiêu hủy 01 phong b niêm phong chứa chất ma túy và vỏ bao b còn lại sau giám định, 01 dao lam đã qua s dụng, 01 bộ đồ s dụng ma túy đá t chế đã qua s dụng, 01 kéo đã qua s dụng, 01 tờ giấy vở học sinh bị cắt một góc phần bị cắt có kích thước 05cm x 05cm đã qua s dụng; Tịch thu vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ nh a màu đen đã qua s dụng, 01 điện thoại di động Samsung vỏ nh a màu đen đã qua s dụng; Tịch thu vào ngân sách nhà nước của bị cáo Lưu Quang V số tiền 1.600.000 đồng do bán ma túy mà có. Bị cáo phải nộp án phí h nh s s th m theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của c quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá tr nh điều tra, truy tố, xét x đều hợp pháp.

- Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại c quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản nhận dạng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ s vụ án đã được th m tra tại phiên tòa. V vậy, đã có đủ c sở để kết luận như sau: Tại n i ở của m nh tại Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng, khoảng 10 giờ 40 phút ngày 16/12/2019 bị cáo Lưu Quang V đã bán ma túy là 01 gói Heroine cho Bùi Văn T2 và Đỗ Văn T1 với giá 500.000 đồng, khoảng 12 giờ 40 phút ngày 17/12/2019 bị cáo Lưu Quang V đã bán ma túy là 01 gói Heroine cho Bùi Văn T2 và Ng Văn K với giá 300.000 đồng, khoảng 19 giờ 00 phút ngày 18/12/2019 bị cáo Lưu Quang V đã bán ma túy là 01 gói Heroine cho Đỗ Văn T1 và Đỗ Mạnh C với giá 500.000 đồng, khoảng 10 giờ 40 phút ngày 19/12/2019 bị cáo Lưu Quang V đã bán ma túy là 01 gói Heroine cho Bùi Văn T2 và Ng Văn K với giá 300.000 đồng, khoảng 10 giờ 45 phút ngày 20/12/2019 bị cáo Lưu Quang V đã bán ma túy là 01 gói Heroine cho Bùi Văn T2 và Ng Văn K với giá 300.000 đồng và bị cáo Lưu Quang V cất giữ tổng trọng lượng ma túy là 1,2106 gam Heroine với mục đích để bán. Bị cáo Lưu Quang V đã bán ma túy trái phép 05 lần và cho 04 người khác nhau, cất giữ tổng trọng lượng ma túy là 1,2106 gam Heroine với mục đích để bán, đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích mà lại th c hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên hành vi của bị cáo Lưu Quang V đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy với t nh tiết định khung h nh phạt là phạm tội 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên, tái phạm nguy hiểm theo điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật H nh s . Cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo và lời luận tội, kết tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.

- Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các t nh tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm h nh s , nhân thân của bị cáo và hình phạt áp dụng:

Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm đã tr c tiếp xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về chất ma tuý gây mất trật t trị an xã hội, vi phạm Luật Phòng, chống ma túy. Ma túy đã và đang trở thành hiểm họa chung của cả nhân loại. Kh ng một quốc gia nào thoát ra khỏi vòng xoáy khủng khiếp của nó và tránh khỏi những hậu quả do nghiện hút hay bu n bán ma túy gây ra. Ma túy đang làm hủy hoại sức khỏe của chính người dùng, xói mòn s tồn tại và phát triển của loài người và là nguồn gốc phát sinh tội phạm, gia tăng bạo l c. Ma túy làm suy thoái nhân cách người nghiện, tàn phá cuộc sống yên vui gia đ nh và s an toàn của xã hội. H n nữa, ma túy còn gây tác hại trên lĩnh v c kinh tế, chính trị, văn hóa, đồng thời nó cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và những tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến s ổn định và phát triển của xã hội. Nghiêm trọng h n, ma túy còn là tác nhân chủ yếu thúc đ y căn bệnh thể lý HIV/AIDS phát triển. Đặc biệt s lạm dụng ma túy là mối đe dọa lớn đối với s phát triển của lớp trẻ và giá trị của nhân loại. Tác hại do nghiện ma túy gây ra đối với con người, gia đ nh và xã hội là khó lường.

Về các t nh tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm h nh s : Bị cáo kh ng có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s . Bị cáo thành kh n khai báo, công tác tr c tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ Quốc tế sau ngày 30/4/1975 do đó bị cáo có các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh s .

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo nghiện ma túy, đã nhiều lần bị kết án nên bị cáo có nhân thân xấu.

Về mức h nh phạt áp dụng: Phải áp dụng h nh phạt tù đối với bị cáo, như vậy mức h nh phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

Tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật H nh s quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng h nh phạt bổ sung, nhưng bị cáo là người nghiện ma túy hiện kh ng có nghề nghiệp, thu nhập và tài sản riêng, có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s nên kh ng áp dụng h nh phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về những vấn đề khác:

Biện pháp tư pháp và x lý vật chứng: 01 phong b niêm phong chứa chất ma túy và vỏ bao b còn lại sau giám định, 01 dao lam đã qua s dụng, 01 bộ đồ s dụng ma túy đá t chế đã qua s dụng, 01 kéo đã qua s dụng, 01 tờ giấy vở học sinh bị cắt một góc phần bị cắt có kích thước 05cm x 05cm đã qua s dụng là c ng cụ phạm tội và kh ng còn giá trị s dụng nên tịch thu tiêu hủy. Tịch thu vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ nh a màu đen đã qua s dụng, 01 điện thoại di động Samsung vỏ nh a màu đen đã qua s dụng dùng vào việc phạm tội nên tịch thu vào ngân sách nhà nước; Tịch thu vào ngân sách nhà nước của bị cáo Lưu Quang V số tiền 1.600.000 đồng do bán ma túy mà có.

Bị cáo phải nộp án phí h nh s s th m theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, Bùi Văn T2, Ng Văn K, Đỗ Văn T1, Đỗ Mạnh C là những người nghiện mua ma túy của Lưu Quang V để s dụng cho bản thân. Quá tr nh điều tra xác định về nhân thân Bùi Văn T2, Ng Văn K, Đỗ Văn T1, Đỗ Mạnh C chưa có tiền án về các tội liên quan đến ma túy, chưa bị x lý về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lượng ma túy thu giữ của Bùi Văn T2, Ng Văn K kh ng đủ trọng lượng để truy cứu trách nhiệm h nh s và kh ng thu giữ được ma túy của Đỗ Văn T1, Đỗ Mạnh C nên C ng an huyện Thủy Nguyên đã x lý hành chính đối với Bùi Văn T2, Ng Văn K, Đỗ Văn T1, Đỗ Mạnh C. Người phụ nữ bán ma túy cho Lưu Quang V ở đường tàu nội thành Hải Phòng quá tr nh điều tra kh ng xác định được căn cước, lai lịch nên kh ng có c sở để điều tra.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật H nh s , x phạt: Lưu Quang V 09 (chín) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành h nh phạt tính từ ngày bị tạm giữ ngày 20/12/2019.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật H nh s và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng H nh s : Tịch thu tiêu hủy 01 phong b niêm phong chứa chất ma túy và vỏ bao b còn lại sau giám định, 01 dao lam đã qua s dụng, 01 bộ đồ s dụng ma túy đá t chế đã qua s dụng, 01 kéo đã qua s dụng, 01 tờ giấy vở học sinh bị cắt một góc phần bị cắt có kích thước 05cm x 05cm đã qua s dụng. Tịch thu vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ nh a màu đen đã qua s dụng, 01 điện thoại di động Samsung vỏ nh a màu đen đã qua s dụng (Theo Biên lai thu tiền số 0000343 và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản cùng ngày 15/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân s huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng). Tịch thu vào ngân sách nhà nước của bị cáo Lưu Quang V số tiền 1.600.000 đồng.

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng h nh s , khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lưu Quang V phải nộp 200.000 đồng án phí h nh s s th m.

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng h nh s : Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s th người được thi hành dân s , người phải thi hành dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .

Cỡ chữ