vanban.org

Bản án 52/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 24/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định.

(Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng). Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T bị xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2020/HS-ST
Ngày 24-6-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhã

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Cảnh

Ông Phạm Công Hạ

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên Thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Yến- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Đào Thị N; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 16/02/2020 đến ngày 22/02/2020 chuyển tạm giam. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ, ngày 16/02/2020, Tổ công tác Công an huyện Thủy Nguyên kết hợp với Công an xã H làm nhiệm vụ tại khu vực đường liên xã thuộc thôn 6, xã H, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng phát hiện T có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ tại tất chân bên phải của Thông đang đeo có 05 gói giấy (gồm 04 gói bạc màu trắng và 01 gói giấy tối màu) bên trong đều chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy); tạm giữ của Thông 01 xe mô tô biển kiểm soát 16N4-4116. Tổ công tác đã đưa Thông cùng vật chứng về trụ sở Công an giải quyết.

Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của T: Không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì có liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 73 ngày 18/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 05 gói giấy chứa chất bột màu trắng thu của T là ma túy, có khối lượng 0,16 gam, là loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, T khai: Do nghiện chất ma túy, loại Heroine nên Thông thường đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 13 giờ, ngày 16/02/2020, Thông điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16N4-4116 sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Thông gặp và mua của người đàn ông không quen biết 05 gói giấy (trong đó 04 gói bạc màu trắng và 01 gói giấy tối màu) chứa chất ma túy, loại Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Thông cất giấu vào tất chân bên phải đang đeo, rồi điều khiển xe mô tô về huyện Thủy Nguyên để tìm nơi sử dụng. Khi Thông đi đến khu vực đường liên xã thuộc thôn 6, xã H, huyện Thủy Nguyên thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ, thu giữ vật chứng như trên.

Bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 28 tháng 5 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng đã truy tố T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo đã thành khẩn khai báo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Kiểm sát viên sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 16 tháng 02 năm 2020; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16N4 - 4116, Công an thu giữ, Th khai mượn của anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1988, ở thôn M, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng để đi lại. Tại cơ quan điều tra anh Thắng khai mua chiếc xe mô tô trên nhưng không có đăng ký xe, anh cho T mượn xe nhưng không biết việc T đi mua chất ma túy nên Công an huyện Thủy Nguyên không xử lý. Tiến hành tra cứu xe mô tô biển kiểm soát 16N4 - 4116 xác định đăng ký xe mang tên Bùi Văn C, ở thôn X, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, anh C khai đã bán cho người không quen biết nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Tài liệu điều tra hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô trên nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận của bị cáo T tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang phù hợp với Kết luận giám định số 73 ngày 18/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Ngày 16/02/2020, T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,16 gam, là loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang tại khu vực thôn 6, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” vi phạm Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, vì vậy Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng tuy nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự song tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Mặt khác, bị cáo thường xuyên sử dụng ma túy nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có tài sản riêng và không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong chứa số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định và phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 16 tháng 02 năm 2020

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định.

(Chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên;

- Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên;

- Trại giam công an thành phố Hải Phòng;

- Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên;

- TAND thành phố Hải Phòng;

- Công an thành phố Hải Phòng;

- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;

Nguyễn Thị Nhã

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Bùi Đức Khoa Nguyễn Văn Đông

Nguyễn Thị Nhã Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên;

- Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên;

- Trại giam công an thành phố Hải Phòng;

- Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên;

- TAND thành phố Hải Phòng;

- Công an thành phố Hải Phòng;

- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Nhã

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Văn Sóng Doãn Văn Sáng

Nguyễn Văn Cƣơng Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Thuỷ Nguyên;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- Cơ quan điều tra công an huyện Thuỷ Nguyên;

- Cơ quan THAHSCA huyện Thuỷ Nguyên;

- Trại giam công an thành phố Hải Phòng;

- Trại tạm giam công an huyện Thuỷ Nguyên;

- TAND thành phố Hải Phòng;

- Công an thành phố Hải Phòng;

- Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;

Nguyễn Văn Cƣơng

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Cỡ chữ