- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2020/HS-ST Ngày: 29/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC -TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Nguyễn Duy Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Thành Nam
Bà Nguyễn Thị Thúy Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Vũ Thành Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại Nhà văn hóa thôn Lâm Xuyên, xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2020/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2020/HSST-QĐ ngày 18 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh ngày 15/5/1976; Nơi sinh và cư trú: Thôn Ch, xã Đ, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn S (đã chết), con bà Nguyễn Thị S1; Có vợ là Nguyễn Thị T và có 04 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2013;Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc.Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đào Văn Ch, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn Phương Trù, xã Yên Phương, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn Bàng Mới, xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/6/2020, Q đang ở nhà thì có 01 nam thanh niên tên là (có bố đẻ tên là Hải) ở thông Miễu, xã Đ đến rủ Q đi mua ma túy về sử dụng, Q đồng ý. S2 điều khiển xe mô tô (không rõ Biển kiểm soát) chở Q đến khu vực thôn Trại Lớn, xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, S2 bảo Q xuống xe đứng chờ còn S2 đi tìm mua ma túy. Một lúc sau, S2 quay lại nói đã mua được ma túy rồi rủ Q đến nhà vệ sinh đền B thuộc địa phận thôn M, xã T để cùng nhau sử dụng ma túy. Tại nhà vệ sinh, S2 đưa cho Q 01 gói ma túy để Q sử dụng, cùng lúc này thì Đào Văn Ch cũng đi vào nhà vệ sinh. S2 nói đi ra ngoài mua nước uống, còn lại Ch và Q, Ch bảo Q bán lại cho một ít ma túy với giá 200.000đồng. Q đồng ý và sẻ gói ma túy S2 vừa đưa cho thành 02 phần, Ch đưa cho Q 200.000đồng, Q nhận tiền và đưa cho Ch 01 phần ma túy. Khi các đối tượng đang giao dịch mua bán ma túy thì bị Tổ công tác của Công an huyện Yên Lạc phát hiện, bắt quả tang và thu giữ: Tại lòng bàn tay phải của Ch 01 gói nhỏ bên ngoài bọc giấy, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (Ch khai là gói ma túy vừa mua của Q), niêm phong trong bì thư ký hiệu A1; tại lòng bàn tay phải của Q số tiền 200.000đồng; tại sàn nhà vệ sinh sát vị trí Q đang ngồi 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga, 01 gói nhỏ bên ngoài bọc giấy, bên trong chưa chất bột dạng cục màu trắng (Q khai là gói ma túy còn lại sau khi bán một phần cho Ch), niêm phong trong bì thư ký hiệu A2.
Tại Kết luận giám định số:1325/KLGĐ ngày 09/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1, A2 gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine, trong đó A1 có khối lượng bằng 0,0097g, A2 có khối lượng bằng 0,1504g.
Đối với Đào Văn Ch là đối tượng có hành vi mua ma túy của Q để sử dụng cho bản thân. Xét thấy hành vi của Ch chưa đến mức xử lý hình sự, ngày 20/8/2020 Công an huyện Yên Lạc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ch số tiền 1.500.000đồng theo quy định.
Đối với đối tượng tên S2, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thôn Miễu, xã Đ xác định có một nam thanh niên tên là Tạ Văn S2, sinh năm 1987 có bố đẻ tên Tạ Văn H, mẹ đẻ tên Nguyễn Thị Ng. Tuy nhiên, S2 thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không xác định được S2 đang ở đâu nên tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 52/CT-VKS, ngày 31/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụngkhoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga, 01 bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu “MẪU TRẢ”; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 200.000 đồng có được do thực hiện hành vi phạm tội.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 12 giờ ngày 05/6/2020, tại khu vực nhà vệ sinh đền B thuộc địa phận thôn M, xã T, huyện Yên Lạc, Nguyễn Văn Q đang có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy (theo kết luận giám định bằng 0,0097g Heroine) cho Đỗ Văn Ch với giá 200.000đồng thì bị Tổ Công tác của Công an huyện Yên Lạc phát hiện bắt quả tang. Cơ quan Công an còn thu giữ tại nền nhà vệ sinh 01 gói Heroine khác có khối lượng bằng 0,1504g, bị cáo khai nhận số ma túy này để sử dụng cho bản thân và có người hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Do đó, hành vi của Nguyễn Văn Q đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định:“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã tiếp tay cho bọn tội phạm để đầu độc các thanh thiếu niên bằng chất ma túy mà còn gây khó khăn cho nhiều gia đình có con em bị nghiện, là nguyên nhân làm phát sinh và gia tăng các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có điều kiện làm ăn chân chính để nuôi sống bản thân và gia đình nhưng ngược lại để thỏa mãn cơn nghiện và có tiền mua ma túy sử dụng, bị cáo đã thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác để thu lợi, bất chấp hậu quả xảy ra. Do vậy, cần có một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Ngoài ra, bị cáo có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị S1 là người có công, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, được hội cựu chiến binh tặng Tám chữ vàng danh dự, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của pháp luật, tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo, sửa đổi bản thân để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định, tại địa phương bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Mẫu vật niêm phong ký hiệu A1=0,0000g, A2= 0,1170g còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy; 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga là công cụ để sử dụng ma túy tên tịch thu, tiêu hủy; số tiền 200.000đồng là tiền bán ma túy mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
. Về các vấn đề khác: Đối với Đào Văn Ch là đối tượng có hành vi mua ma túy của Q để sử dụng cho bản thân. Xét thấy hành vi của Ch chưa đến mức xử lý hình sự, ngày 20/8/2020 Công an huyện Yên Lạc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ch số tiền 1.500.000đồng là đúng pháp luật.
Đối với đối tượng tên S2 quá trình điều tra không xác định được S2 đang ở đâu, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 05/6/2020.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật niêm phong ký hiệu A1=0,0000g, A2= 0,1170g còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói; 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước của Nguyễn Văn Q số tiền 200.000đồng.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc).
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND huyện Yên Lạc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc; - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Yên Lạc; - Chi cục THADS huyện Yên Lạc; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Ủy ban nhân dân xã Đ; - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS,VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hưng |