- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự phúc thẩm - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Giữ người trái pháp luật”.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2020/HS-PT Ngày 12 - 8 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩ m phá n – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Cao Văn Tám
Ông Trần Quang Khang
- Thư ký phiên tò a: Ông Trần Tuấn Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân tỉ nh Bạ c Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trang Thanh Bình, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét
xử phúc thẩm công khai vu ̣ án hinh sự phúc thẩm thụ lý số: 54/2020/TLPT-HS
̀ ngày 16 tháng 6 năm 2020 đối vớ i bị cáo Nguyễn Văn K, do có kháng cáo của bị cáo vớ i Bản án hinh sự sơ thẩm số: 04/2020/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm
̀ 2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị cá o có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh năm 1988 tại H, Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1949 và bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1950; có vợ tên Lưu Thị Trúc L, sinh năm 1990, có 02 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019 tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Duy S là Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bạc Liêu, (có mặt).
Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Văn Đ1, sinh nă 1949 và 03 người đại diện hợp pháp của bị hại không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do vợ, con đi làm xa nên Nguyễn Văn Đ ở nhà một mình tại ấp B, xã V, huyện H thường xuyên uống rượu gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Đến khoảng 17 giờ, ngày 28/02/2019, sau khi uống rượu, Đ có hành vi chặn đường người đi đường xin tiền, xin thuốc hút và vào nhà Nguyễn Văn N, bác ruột vợ Đ đập phá tủ đựng thuốc thì Nguyễn Văn Đ1 là cha vợ Đ can ngăn kêu về nhưng Đ không về. Một lúc sau, Nguyễn Văn K con của Đ1 đi làm về nên Đ1 kêu K kêu Đ về vì Đ rất nghe lời của K và lấy sợi dây xích bằng kim loại xích chân Đ lại để không quậy phá. Sau đó, K gặp Đ và nói “vô nhà với em đi rồi em mua rượu cho uống”, Đ đồng ý. Khi vào đến nhà thì Đ1 và Đ ngồi trên giường còn K đi xuống vỏ đậu gần đó lấy sợi dây xích bằng kim loại dài khoảng 02m, một đầu có phen tròn K cột chặt vào cột nhà, một đầu dây xích còn lại K kéo đến vị trí Đ ngồi và nói “anh đưa cái chân ra để em buộc lại”, Đ đưa chân phải ra thì K dùng sợi dây xích bằng kim loại xích vào chân và dùng ổ khóa, khóa lại còn chìa khóa K đem về cất tại bàn máy may trong nhà. Khi xích chân Nguyễn Văn Đ không có phản ứng gì.
Đến 19 giờ, cùng ngày nhà Nguyễn Văn Đ xảy ra cháy, ngọn lửa bắt đầu từ nhà Đ cháy lan sang nhà Nguyễn Văn Đ1 và nhà Nguyễn Văn Đ2. Hậu quả 03 căn nhà bị lửa thiêu rụi hoàn toàn, còn Nguyễn Văn Đ do bị xích lại nên không chạy thoát được ra ngoài nên chết cháy trong nhà.
Tại biên bản khám nghiệm tử thi hồi 02 giờ 15 phút ngày 01/3/2019, Phẩu thuật tử thi từ thái dương phải sang thái dương trái bộc lộ da đầu thấy: Dưới da đầu không bầm tụ máu; xương hộp sọ không rạn nứt. Thăm khám bằng tăm bông hai lỗi mũi và miệng thấy: Bên trong hai lỗ mũi dính chất bụi bẩn màu đen và chất dịch màu đỏ nhạt; trong miệng có chất bụi màu đen và chất dịch màu đỏ nhạt. Phẩu thuật vùng cổ, gáy thấy: Da cơ vùng cổ gáy không bầm tụ máu; các đốt sống cổ không bị gãy. Phẩu thuật từ dưới cằm xuống đến rốn thấy: Các khung xương sườn không bị gãy, da cơ có màu hồng cánh sen, khí quản sung huyết có màu hồng cánh sen; phổi sung huyến có màu hồng cánh sen, trong nhu mô phổi có dịch màu nâu sậm; khoang lồng ngực khô, trong khí quản có dịch đỏ thẩm; khoang màng tim có dịch màu đỏ thẩm, tim sung huyết màu hồng cánh sen, trong buồng tim có máu loãng; gan sung huyết có màu hồng cánh sen; dạ dày teo nhỏ sung huyết màu hồng cánh sen, niêm mạc dạ dày sung huyết, trong dạ dày có dịch màu hồng. Thu mẫu giám định: Phổi, tim, gan, dạ dày và dịch dạ dày và các mẫu máu buồng tim, dịch khí quản.
Tại bản kết luận giám định pháp y về mô bệnh học số: 04 ngày 01/4/2019 của Bệnh viện Quân y 175 đối với Nguyễn Văn Đ kết luận: Tổn thương chủ yếu là phù nề, sung huyết nặng ở phổi (phù hợp với tổn thương ngạt khí trong đám cháy).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số: 118 ngày 04/4/2019 của Phân viện pháp y quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trong phủ tạng của Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1971, do Cơ quan điều tra Công an huyện Hồng Dân gửi giám định ngày 27/3/2019 không tìm thấy các chất độc thường gặp.
Tại Bản kết luận giám định số: 1853-01 ngày 09/4/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí minh kết luận: Mẫu tàn than tro được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần xăng dầu, hóa chất gây cháy.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 08 ngày ngày 22/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu kết luận:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Toàn thân nạn nhân bị cháy khô có cứng than hóa màu đen, da nứt nẻ; trong hai mũi và miệng có dính chất bụi bẩn màu đen và chất dịch màu đỏ nhạt; khí quản sung huyết có màu hồng cánh sen; phổi sung huyết có màu hồng cánh sen, trong nhu mô phổi có dịch màu nâu sậm, phần lớn lòng phế nang giãn rộng chứa dịch phù xen lẫn sợi tơ huyết, thành phế nang đứt đoạn, hệ thống mao mạch phổi sung huyết nặng, tổn thương chủ yếu là phù nề, sung huyết nặng ở phổi (phù hợp với tổn thương ngạt khí trong đám cháy); phủ tạng sung huyết có màu hồng cánh sen.
- Nguyên nhân chết: Nguyễn Văn Đ chết do ngạt khí trong đám cháy.
Tại Bản kết luận giám định số 1853/C09B ngày 26/4/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trên các mẫu vật gửi giám định có sự cố về điện (chạm, chập điện); sự cố chạm, chập điện là do cháy nhà trước rồi mới xảy ra sự cố về điện; nguyên nhân dẫn đến sự cố về điện là do cháy lan; phần còn lại (bánh xe) của bật lửa gửi giám định chưa đủ cơ sở để giám định nguyên nhân dẫn đến cháy nhà; một CB (bộ phận chống giật) gửi giám định có bật để ngắt nguồn điện khi CB hoạt động tốt có kiểm định thì sẽ bật khi dòng điện qua CB dòng định mức trên CB, CB gửi giám định không đủ cơ sở để kết luận bật trước khi sự cố điện hay sau khi sự cố điện; do không tìm thấy được tổ hợp dấu vết gây cháy đầu tiên, điểm xuất phát cháy đầu tiên nên không đủ cơ sở để xác định nguyên nhân xảy ra cháy của nhà Nguyễn Văn Đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2020/HS-ST ngày 28/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Giữ người trái pháp luật”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự. Xử pha ̣t bi ̣ cáo Nguyễn Văn K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/5/2020, bị cáo Nguyễn Văn K kháng cáo xin được hưởng án treo, tại phiên tòa bị cáo bổ sung kháng cáo xin giảm án
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nội dung kháng cáo, xét thấy cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Tuy nhiên, cũng cần xem xét đến bị cáo có nhân thân tốt, luôn chấp hành đúng quy định pháp luật tại địa phương, hành vi phạm tội của bị cáo cũng xuất phát từ việc bị hại thường xuyên gây mất an ninh trật tư tại địa phương, việc bị hại chết là nằm ngoài mong muốn của bị cáo, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tích cực khắc phục hậu quả thêm cho gia đình bị hại và được đại diện gia đình bị hại và những người dân địa phương xin cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, việc cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, không gây nguy hiểm cho xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2020/HS-ST ngày 28/4/2020 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu, xử phạt bị cáo 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên. Về nguyên nhân thực hiện hành vi của bị cáo là nhằm ngăn chặn hành vi gây mất an ninh trât tự của bị hại. Ngoài ra, bị cáo là người trực tiếp chăm sóc cho bị hại, việc cháy nhà dẫn đến bị hại chết là nằm ngoài mong muốn của bị cáo và bị cáo trình độ học vấn thấp, hạn chế hiểu biết về pháp luật nên đề nghị xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm m khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phạm tội do lạc hậu. Sau khi xét xử sơ thẩm bản án không buộc bị cáo phải bồi thường thêm nhưng bị cáo vẫn cố gắng bồi thường thêm cho bị hại để thể hiện việc bị cáo có thiện chí, ăn năn hối cải và người dân địa phương cũng có ký tên để xin cho bị cáo được hưởng án treo đều này cho thấy bị cáo ở địa phương là một công dân tốt. Về gia đình bị cáo có 02 người con nhỏ phải chăm sóc và hiện nay con của bị hại cũng đang ở nhà của bị cáo, bị cáo lại là lao động chính trong gia đình, nếu xử phạt tù giam cho bị cáo sẽ đẩy hoàn cảnh gia đình bị cáo vào tình cảnh hết sức khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp lời khai của bị cáo, trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 17 giờ ngày 28/02/2019, sau khi uống rượu say, Nguyễn Văn Đ có hành vi chặn đường xin tiền, gây mất an ninh trật tự nên bị cáo Nguyễn Văn Đ1 là cha vợ của Đ cùng bị cáo Nguyễn Văn K là con của bị cáo Đ1 dùng dây xích để xích chân của Nguyễn Văn Đ, đầu dây còn lại được xích vào cột nhà của Đ. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì nhà Nguyễn Văn Đ xảy ra cháy, do bị xích nên Nguyễn Văn Đ không thể thoát ra ngoài và tử vong, qua giám định Nguyễn Văn Đ chết do ngạt khí trong đám cháy là có xảy ra trên thực tế. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Văn K phạm tội “Giữ người trái pháp luật theo điểm a khoản 3 Điều 157 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm án và hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn K, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc dùng dây xích bắt giữ bị hại là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội, do vậy cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo việc cải tạo, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và cũng để răn đe, phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục một phần hậu quả; đại diện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên được cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 02 năm tù, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại nhưng tình tiết này đã được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng và mức hình phạt cũng tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, lời bào chữa của Luật sư cũng như không chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
[3] Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm án và hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn K. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2020/HS-ST ngày 28/4/2020 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Giữ người trái pháp luật”.
2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự.
3. Xử pha ̣t bi ̣ cáo Nguyễn Văn K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
4. Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2020/HS-ST ngày 28/4/2020 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bạc Liêu (02 bản); - Phòng hồ sơ Công an tinh Bạc Liêu (01 bản);̉ - TAND H. H (02 bản); - VKSND H. H (01 bản); - CQĐT H. H (01 bản); - Chi cục THADS H (01 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu (1 bản); - Bị cáo (01 bản); - Lưu: HS, THS, THCTP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã Ký) Lê Thanh Hùng |