vanban.org

Bản án 52/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Đoàn Ph đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Th.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Đoàn Ph được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th. (Theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/HT-HB, quyển số 01/2002 do Ủy ban nhân dân phường H B, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 03/6/2002). Về con chung: Anh Nguyễn Văn Th giao 02 con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị Đoàn Ph - Nguyễn Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Đoàn Ph đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————
Bản án số: 52/2020/HNGĐ-ST
Ngày 13-7-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hiếu Trọn;

2. Ông Võ Cao Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23/6/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Đoàn Ph, sinh năm 1979; thường trú: Số 169/8 khu phố B, phường L B, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1975; thường trú: Số 514/42 khu phố Qu Th phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Ngô Thị Đoàn Ph trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Đoàn Ph và anh Nguyễn Văn Th sau thời gian tìm hiểu khoảng 01 năm thì tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H B, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/HT-HB, quyển số 01/2002, cấp ngày 03/6/2002. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại số 514/42 khu phố Qu Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn cho đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cải vã, bất đồng quan điểm sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, anh Th ăn nhậu về thường xuyên quậy phá đồng thời hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2019 cho đến nay. Nay nguyên đơn chị Ph xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị Ph yêu cầu được ly hôn với anh Th.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 24/7/2003 và Nguyễn Hoàng Ph, sinh ngày 19/8/2009. Sau khi ly hôn, chị Ph yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh Thắng cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn Th: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai ngày 13/4/2020, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 22/5/2020; tham gia phiên tòa vào các ngày 23/6/2020 và ngày 13/7/2020 nhưng vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu của chị Ph và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Ph và anh Th do Tòa án tiến hành ngày 31/3/2020, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau: Chị Ph và anh Th trước khi nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án chị Ph không yêu cầu chính quyền địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thực tế mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, vấn đề chăm sóc, nuôi dạy con chung như thế nào chính quyền địa phương không nắm rõ vì không thấy đại diện khu phố hay địa phương phản ánh phản ánh hay cung cấp thông tin gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

Về hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống không hạnh phúc do mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn và yêu cầu giải quyết về con chung là có cơ sở chấp nhận. Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 23/6/2020 và ngày 13/7/2020 nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2002 chị Ngô Thị Đoàn Ph và ông Nguyễn Văn Th tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H B, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/HT-HB, quyển số 01/2002, cấp ngày 03/6/2002 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Chị Ph xác định trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau, hiện nay hai vợ chồng sống ly thân nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Th. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Th đến làm việc nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, anh Th không đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, anh Th cũng không có văn bản thể hiện thiện chí đưa ra phương án hàn gắn mối quan hệ giữa anh với chị Ph, vì vậy có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị Ph và anh Th đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị Ph yêu cầu được ly hôn với anh Th là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 24/7/2003 và Nguyễn Hoàng Ph, sinh ngày 19/8/2009. Hiện các con chung đang ở cùng với mẹ, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng. Việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt của con chưa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng, mặc dù đã được Tòa án niêm yết các văn bản có nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về việc nuôi dưỡng con chung cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối gì. Căn cứ vào lời khai của cháu Đ, Ph mong muốn được sống chung cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy, các cháu Đ, Ph từ nhỏ đến nay sống chung với mẹ và vẫn phát triển tốt. Vì vậy, Tòa án chấp nhận yêu cầu giao các con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Ngô Thị Đoàn Ph không yêu cầu anh Nguyễn Văn Th phải cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị Phương.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ cở chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương là phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 227, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Đoàn Ph đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Th.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Đoàn Ph được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th. (Theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/HT-HB, quyển số 01/2002 do Ủy ban nhân dân phường H B, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 03/6/2002).

Về con chung: Anh Nguyễn Văn Th giao 02 con chung tên Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 24/7/2003 và Nguyễn Hoàng Ph, sinh ngày 19/8/2009 cho chị Ngô Thị Đoàn Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Ngô Thị Đoàn Ph không yêu cầu anh Nguyễn Văn Th phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn chị Ngô Thị Đoàn Ph và anh Nguyễn Văn Th có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Chị Ngô Thị Đoàn Ph phải tạo điều kiện cho anh Nguyễn Văn Th trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ngô Thị Đoàn Ph phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí về ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0040186 ngày 10/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dương.

4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ