- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Nhung và anh Nguyễn Thành Công"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 52/2020/HNGĐ-ST Ngày: 18-8-2020 V/v “Ly hôn, tranh chấ p về nuôi con khi ly hôn " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHẤN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Công Gia
Ông Nguyễn Quang Chung
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Đại diện VKSND huyện Tân Phú , tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa : Bà Trương Thị Liên – Kiển sát viên.
Ngày 18/8/2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2020/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10/7/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị N, sinh năm 1984
Địa chỉ: Ấp P, xã P1, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh C, sinh năm 1974
Địa chỉ: Ấp P, xã P1, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Chị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;anh C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 04/02/2020, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh C tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P1, huyện T, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/7/2007.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh C xúc phạm danh dự nhân phẩm và đánh đập chị N, chị cũng đã cố gắng chịu đựng để hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi. Chị N và anh C đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị N thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là Nguyễn Thành K, sinh ngày 02-4-2007 và Nguyễn Thành P2, sinh ngày 25-10-2009. Khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con;
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý số 43/2020/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2020 cho anh C. Anh C đã biết được việc chị N xin ly hôn với anh C nhưng không có ý kiến trả lời theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh C nhưng anh C không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến trình bày của anh C.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị N đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ sau: Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu (bản sao), giấy chứng nhận kết hôn (Bản sao), Giấy khai sinh con chung (Bản sao); bản tự khai (bản chính). Bản sao các tài liệu, chứng cứ này bị đơn đã nhận được.
Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Biên bản xác minh đối với ông Nguyễn Xuân Đ, ông Nguyễn Văn Đ1 về tình trạng hôn nhân của chị N và anh C. Tòa án đã ra thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự biết. Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, chị N không có ý kiến gì và không bổ sung gì thêm.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điề u 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 91, 92, 93, 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về đường lối giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn anh C.
+Về con chung: Giao cháu K, sinh ngày 02-4-2007 và cháu P2, sinh ngày 25-10-2009 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm thời anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không có yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Anh C vắng mặt tại các buổi hòa giải và xét xử nên khi nào các đương sự yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
+ Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đ án phí DSST về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Chị N có đơn khởi kiện ly hôn , tranh chấ p về việ c nuôi con khi ly hôn vớ i anh C. Căn cứ và o khoản 1 Điều 28, Điề u 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự , Hộ i đồ ng xé t xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" và xác định chị N là nguyên đơn, anh C là bị đơn.
Anh C là bị đơn có nơi cư trú tại xã P1, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân huyện Tân Phú có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ kiện.
Nguyên đơn chị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh C đã được triệu tập hợp lệ lầ n thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn chị N và bị đơn anh C.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân củ a chị N và anh C đượ c xá c lậ p trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã P1, huyện T, tỉnh Đồng Nai, cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/7/2007. Như vậy, hôn nhân giữa chị N và anh C được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay chị N yêu cầu ly hôn, thì Tòa án áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết.
Trên cơ sở lời khai của đương sự, kế t quả xác minh thực tế tại địa phương thể hiện: Gia đình chị N và anh C thường xuyên xảy ra cự cãi, xung đột, cuộc sống không có hạnh phúc. Chị N và anh C đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay.
Xét, chị N và anh C hiệ n nay đã không cò n số ng chung vớ i nhau, bản thân anh C đã đượ c Tò a á n tố ng đạ t hợ p lệ cá c văn bản tố tụng nhưng anh C vẫ n không đế n tò a là m việ c, thể hiệ n anh C không mong muốn hò a giả i để vợ chồng cùng đoàn tụ sống chung.
Như vậy, có căn cứ xác định chị N và anh C đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để anh, chị có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp chận yêu cầu của chị N, cho chị được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị N và anh C có 02 con chung: Nguyễn Thành K, sinh ngày 02-4-2007 và Nguyễn Thành P2, sinh ngày 25-10-2009. Theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Từ khi chị N và anh C ly thân, cháu K, cháu P2 được chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Cháu K, cháu P2 cũng có nguyện vọng được sống chung với chị N. Từ các căn cứ trên, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, tránh sự xáo trộn đời sống tâm lý của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K, sinh ngày 02-4-2007 và cháu P2, sinh ngày 25-10-2009 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tạm thời anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C không đến Tòa làm việc nên không có lời khai của anh C. Để đảm bảo quyền, lợi ích của chị N, anh C, Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung ra để giải quyết bằng vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điề u 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 91, 92, 93, 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầ u khởi kiện của chị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Giao cháu K, sinh ngày 02-4-2007 và cháu P2, sinh ngày 25-10-2009 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không có yêu cầu. Anh C được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung chị N, anh C có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
- Về tài sản chung, nợ chung: Sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
2/ Về á n phí: Chị N phải nộp 300.000 đồng tiề n á n phí dân sự sơ thẩ m về ly hôn. Số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp theo biên lai thu số 006045 ngày 11/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú được chuyển thành án phí.
3/ Chị N, anh C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mườ i lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Phú; - Chi cục THA huyện Tân Phú; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã P1 (để ghi vào sổ hộ tịch; số 19 ngày 30/7/2007); - Lưu HS – LT. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thịnh |