vanban.org

Bản án 52/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 21/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thủy T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 52 /2019/HSST
Ngày: 21 / 8 / 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Bảo.

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Tiến,

- Ông Phạm Mã Siêu.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TH tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thiên Nhẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2019/HSST ngày 26/7/2019 đối với:

Bị cáo: Trần Thủy T - Sinh năm 1989.

Nơi ĐKHK và cư trú: Thôn P, xã PC, huyện TH, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Trần Thị Thanh L (tức Trần Thị V) - Sn: 1959. Tiền án: Không. Tiền sự: 01. Ngày 07/5/2018 T bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”; Thời hạn 18 tháng tại Trung tâm Cai nghiện ma túy và đối tượng xã hội tỉnh Thái Bình theo Quyết định số: 07/QĐXLHC- TA của TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Bị cáo chưa thi hành quyết định này. Trần Thủy T bị tạm giữ từ ngày 11/6/2019, đến 13/6/2019 chuyển tạm giam. (Bị cáo có mặt).

*Ngƣời làm chứng: - Anh Trần Trọng T2, sinh năm 1985.( Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn P, xã PC, huyện TH, tỉnh Thái Bình.

- Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1955. ( Vắng mặt). Địa chỉ: Khu x , thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên khoảng 16h00’ ngày 11/6/2019, sau khi tan ca Trần Thủy T đi bộ lên khu vực chợ chiều thuộc khu 2, thị trấn TH, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng, Tại đây T gặp một người đàn ông không biết tên tuổi và địa chỉ; T hỏi mua ma túy và đưa cho người đàn ông này 200.000 đồng. Người đàn ông nhận tiền và đưa lại cho T 01 gói nhỏ, bên ngoài đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong có chất bột màu trắng dạng cục, biết đó là ma túy loại hêrôin, T cầm gói ma túy bỏ vào túi quần bên trong phía trước bên trái đang mặc rồi đi về. Khi đi đến ngã ba chợ chiều, đối diện cửa hàng thế giới di động thì T gặp anh trai là Trần Trọng T2; T2 hỏi T đi đâu, T nói đi có việc, sau đó T2 và T cùng đi về. Khi đi đến đoạn đường, trước cửa hàng điện thoại D thuộc phố H, thị trấn TH, huyện TH; Thì bị lực lượng Công an huyện Tiền Hải yêu cầu T dừng lại kiểm tra. Qua giải thích của lực lượng công an, T khai nhận đang tàng trữ 01 gói ma túy trên người. Công an huyện Tiền Hải yêu cầu Trần Thủy T và mời những người làm chứng về trụ sở UBND thị trấn TH làm việc. Tại đây Trần Thủy T tự giác giao nộp 01 gói ma túy, T đang cất dấu trong túi quần bên trong phía trước bên trái đang mặc, để giao nộp cho cơ quan công an; Cơ quan công an huyện Tiền Hải đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản quản lý, niêm phong vật chứng.

Bản cáo trạng số: 57/CT- VKSTH ngày 25/7/2019 VKSND huyện Tiền Hải truy tố Trần Thủy T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Tại phiên tòa T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Đại diện VKSND huyện TH luận tội, tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; điều 50 BLHS năm 2015. Đề nghị xử phạt Trần Thủy T từ 15 tháng đến 18 tháng tù giam. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,1899 gam Hêrôin cùng bao gói. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo không khiếu nại hay có ý kiến gì.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của Trần Thủy T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật; Bản kết luận giám định số: 236/KLGĐ- PC09 ngày 12/6/2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an Thái Bình kết luận: Mẫu vật (chất bột mầu trắng dạng cục) gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có khối lượng 0,1899 gam; Và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16h10’ ngày 11/6/2019, tại khu vực trước cửa hàng điện thoại D thuộc khu phố H, thị trấn TH, huyện TH, Công an huyện Tiền Hải phát hiện bắt quả tang Trần Thủy T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Hêrôin có khối lượng 0,1899 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

“Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy;

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine,……...…., có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm suy thoái nòi giống con người, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Trần Thủy T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trần Thủy T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; Xét thấy, ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, bị cáo là người nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt nghiêm minh bằng hình phạt tù, phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy, Trần Thủy T là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,1899 gam Hêrôin thu giữ của Trần Thủy T; Sau khi giám định còn lại là 0,1662 gam Hêrôin cùng bao gói. Xét thấy số Hêrôin trên là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điều 47 BLHS năm 2015 và khoản 2 điều 106 BLTTHS năm 2015.

Về các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc số ma túy: Trần Thủy T khai toàn bộ số ma túy mà công an huyện TH thu giữ là do T mua của 01 người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở khu vực chợ Chiều, thuộc khu 2 , thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Thái Bình vào ngày 11/6/2019. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải không có đủ cơ sở điều tra, xác minh làm rõ người đàn ông đã bán ma túy cho Trần Thủy T để xử lý theo quy định của pháp luật.

[ 8] Về án phí: Bị cáo Trần Thủy T phải chịu án phí HSST theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 50, điều 38, điều 47 BLHS năm 2015 ; Điều 106, khoản 2 điều 136, điều 331, điều 333 BLTTHS năm 2015; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1./ Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thủy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2./ Về hình phạt: - Xử phạt Trần Thủy T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

- Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 11/6/2019.

3./ Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin có khối lượng 0,1899 gam, sau khi giám định còn lại là 0,1662 gam cùng bao gói.

(Toàn bộ vật chứng trên đã chuyển đến Chi cục THADS huyện Tiền Hải quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/7/2019).

4./ Về án phí:

Bị cáo Trần Thủy T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ