- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Châu và Lường Văn Tuân tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Các bị cáo Quàng Văn C và Lƣờng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 52/2019/HSST Ngày 18 tháng 6 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thành Vân
2. Bà Phạm Thị Hƣơng
- Thư ký phiên toà:
Ông Bùi Quang Hùng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:
Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2019/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Quàng Văn C - Sinh ngày 03/11/1985; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản H, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đảng phái: Không; Con ông Quàng Văn Y, con bà Lƣờng Văn D; Bị cáo có vợ là Lò Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền sự: Không
Tiền án: Năm 2017 bị TAND huyện Sông Mã xử phạt 18 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Năm 2011 bị TAND huyện Sông Mã xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ 14/02/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
2. Họ và tên: Lường Văn T - Sinh ngày 06/4/1991; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản N, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đảng phái: Không; Con ông Lƣờng Văn B, con bà Lƣờng Thị Đ; Bị cáo chƣa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ 14/02/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
* Ngƣời có quyền lợi liên quan: Anh Quàng Văn C - Sinh năm 1992
Địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 00 giờ 20 phút ngày 14/02/2019 Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban Công an xã Nậm Ty, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại bản Xen Say, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã phát hiện hai đối tƣợng là Quàng Văn C và Lƣờng Văn T đi chung 01 xe mô tô có biểu hiện nghi vấn, khi Tổ công tác yêu cầu dừng xe thì Lƣờng Văn T đã thả 01 gói nilon xuống đất, Tổ công tác đã yêu cầu T nhặt lên để giao nộp. Quan kiểm tra đã thu giữ đƣợc 40 viên nén màu hồng (T và C khai nhận là hồng phiến), ngoài ra còn tạm giữ 02 điện thoại và 01 xe mô tô. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản theo quy định.
Cùng ngày tại Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La, hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lƣợng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: 40 viên nén màu hồng thu giữ của Tuân có khối lƣợng là 4,0gam. Trích 05 viên có khối lƣợng là 0,49 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T1, vật chứng còn lại là 3,51gam ký hiệu T.
Tại bản kết luận số 461 ngày 17/02/2019 của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "Mẫu giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lƣợng của mẫu gửi giám định là 0,49 gam. Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ đƣợc là 4,0gam; loại Methamphetamine".
Quá trình điều tra Quàng Văn Cu và Lƣờng Văn T khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 13/02/2019 C điều khiển xe mô tô Wave α nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 26K4-0153 đi từ nhà ở bản H, xã N, huyện Sông Mã đến nhà Lƣờng Văn T ở bản N, xã N, huyện Sông Mã chơi. Trong khi ngồi uống nƣớc C rủ T đi xuống xã Yên Hƣng, huyện Sông Mã chơi, C điều khiển xe chở T đi. Khi đến bản Nà khựa, xã Nậm Ty thì C rủ T cùng đi mua Hồng phiến sử dụng, cả hai thống nhất đi lên bản Nà Sèo để tìm mua ma túy. Khoảng 22 giờ C với T đến bản Nà Sèo, cả hai đi vào nhà một ngƣời đàn ông dân tộc Mông, qua nói chuyện thì biết ngƣời này tên C, C hỏi mua Hồng phiến thì C nói không có, nhƣng C nói nếu muốn lấy thì C sẽ đi mua giúp; Nghe C nói vậy T lấy ra số tiền 1.500.000đ đƣa cho C nhờ mua Hồng phiến, C nhận tiền rồi đi ra ngoài, C với T đợi khoảng 30 phút thì C quay lại đƣa cho T 01 gói nilon màu trắng, T nhận lấy gói ma túy rồi đƣa cho C, C mở gói ma túy ra kiểm tra thì có 42 viên Hồng phiến, C lấy ra 02 viên để C với T cùng C sử dụng. Sau khi sử dụng xong C dùng mảnh nilon màu đen gói lại và đƣa cho T cầm, sau đó C điều khiển xe mô tô chở T đi về. Khi về đến khu vực bản Xen Say, xã Nậm Ty thì bị phát hiện bắt quả tang.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSSM ngày 15 tháng 5 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Quàng Văn C và Lƣờng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 BLHS xử phạt Quàng Văn C từ 04 năm 06 tháng - 05 năm tù; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt Lƣờng Văn T từ 04 năm - 04 năm 06 tháng tù ; Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy số ma túy và vật chứng liên quan; trả lại cho anh Quàng Văn C chiếc xe mô tô. Buộc các bị cáo chịu án phí hình sự. Tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của các bị cáo đƣợc chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập vào hồi 00 giờ 20 phút ngày 14/02/2019, về việc Tổ công tác Công an huyện Sông Mã và Công an xã Nậm Ty bắt quả tang Lƣờng Văn T có hành vi cất dấu 40 viên nén màu hồng nghi là ma túy.
- Vật chứng bị thu giữ gồm 40 viên nén màu hồng. Kết luận giám định 461 ngày 17/02/2019 của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La, kết luận số viên nén đã thu giữ đƣợc của Lƣờng Văn T, kết luận: "Mẫu giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lƣợng của mẫu gửi giám định là 0,49 gam. Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ đƣợc là 4,0 gam; loại Methamphetamine".
- Lời khai của các bị cáo về việc khoảng 19 giờ ngày 13/02/2019 Quàng Văn C điều khiển xe mô tô đến nhà Lƣờng Văn T rủ Tuân đi xuống xã Yên Hƣng, huyện Sông Mã tán gái, trên đƣờng đi C đã rủ T đi mua Hồng phiến để sử dụng, sau đó cả hai đã đi lên bản Nà Sèo, tại đây T đã bỏ ra số tiền 1.500.000đ mua đƣợc 42 viên Hồng phiến, cả hai đã cùng nhau sử dụng hết 02 viên, số 40 viên còn lại đã gói lại bằng nilon mang về để sử dụng, khi trên đƣờng về thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
- Lời khai nhận tội của các bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 13/02/2019 sau khi gặp nhau Quàng Văn Ch đã rủ Lƣờng Văn T đi lên bản Nà Sèo, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã để mua ma túy để sử dụng, sau khi mua đƣợc ma túy, trên đƣờng về thì bị phát hiện. Số ma túy bị thu có khối lƣợng là 4,0 gam; loại chất Methamphetamine.
Hành vi tàng trữ 4,0 gam Methamphetamine của Quàng Văn C và Lƣờng Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lƣờng Văn T không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Quàng Văn C có một tiền án chƣa đƣợc xóa án tích, thuộc trƣờng hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Quàng Văn C là ngƣời rủ rê, khởi sƣớng và dùng phƣơng tiện để chở T cùng mua ma túy; bị cáo Lƣờng Văn T trực tiếp bỏ tiền và cùng C giao dịch mua ma túy là đồng phạm với vai trò là ngƣời thực hành - Áp dụng Điều 58 BLHS khi quyết định hình phạt. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, khối lƣợng ma túy các bị cáo tàng trữ, vai trò và nhân thân của các bị cáo để quyết định một mức án phù hợp với từng bị cáo nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục các bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng.
Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy còn lại và các vật chứng liên quan cần cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 chiếc điện thoại di động do không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho các bị cáo. Đối với chiếc xe mô tô là phƣơng tiện thực hiện tội phạm, quá trình điều tra xác định đƣợc chiếc xe thuộc sở hữu của anh Quàng Văn C, anh C không biết việc Quàng Văn C mƣợn xe để đi mua ma túy về sử dụng nên cần trả lại cho anh C.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Mông tên là C ở bản Nà Seo, xã Nậm Ty,huyện Sông Mã các bị cáo khai đã bán ma túy cho các bị cáo. Quá trình điều tra, xác minh tại bản Nà Sèo, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã không có ai tên là C, nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với anh Quàng Văn C là ngƣời cho bị cáo Quàng Văn C mƣợn xe mô tô, quá trình điều tra đã xác định đƣợc anh C không biết việc Quàng Văn C mƣợn xe để đi mua ma túy, nên cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý là đảm bảo theo quy định.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Các bị cáo Quàng Văn C và Lƣờng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn C 04 năm 06 tháng ( bốn năm sáu tháng ) tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 14/02/2019.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lƣờng Văn T 04 năm ( bốn năm ) tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 14/02/2019.
2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 3,51g ( ba phẩy năm mƣơi mốt ) gam Methamphetamine .
+ 01 ( một ) mảnh ni lon màu hồng.
+ 01(một) túi nilon màu đen.
+ 02 (hai) mảnh ni lon màu trắng.
+ 01(một) vỏ phong bì thƣ niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
( các vật chứng trên đƣợc đựng trong một phong bì do Bƣu điện Việt Nam phát hành đƣợc niêm phong dán kín ).
- Trả lại cho bị cáo Quàng Văn C 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA 1110i số Imel 35866201025248.
- Trả lại cho bị cáo Lƣờng Văn T 01 (một) điện thoại di động mặt sau có chữ iPhone màu ghi, số Imel 359286062684446.
- Trả lại cho ngƣời có quyền lợi liên quan Quàng Văn C 01 (một) chiếc xe mô tô, hiệu HONDA loại Wave α , biển kiểm soát 26K4 - 0153, số máy 013032, số khung 1213043.
( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2019 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).
3- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội:
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, ngƣời có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 18/6/2019./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Ngƣời có qllq; - Bị cáo ; - Lƣu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Toàn |