- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quang T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2019/HS-ST Ngày 12/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đức Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Hợp và bà Phan Thị Thu
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Phương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên toà: Bà Đinh Hồng Hạnh - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L xét xét xử sở thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2019/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Quang T - Sinh ngày: 08/8/1997 tại xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; HKTT và chỗ ở: Xóm V, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H và bà Hoàng Thị T1; Vợ: Trần Mai L, sinh năm 1997; con: có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2019 đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1/ Nguyễn Văn Đ – sinh năm 1999. Nơi cư trú: Xóm R, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)
2/ Nguyễn Trường G – sinh năm 1984. Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)
3/ Hoàng Văn C – sinh năm 2001. Nơi cư trú: Xóm M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)
4/ Nguyễn Giang L– sinh năm 2000. Nơi cư trú: Xóm Đ xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)
5/ Bùi Duy N – sinh năm 1991. Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)
6/ Hoàng Xuân H1 – sinh năm 2001. Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)
7/Hoàng Văn L1 – sinh năm 2000. Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)
8/Đinh Công K – sinh năm 1996. Nơi cư trú: Xóm R, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)
9/ Nguyễn Văn L1 – sinh năm 1994. Nơi cư trú: Xóm M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/04/2019, Nguyễn Trường G gọi điện thoại cho Nguyễn Văn Đ với mục đích rủ đi mua ma túy về để sử dụng, Đ đồng ý. Đ gọi điện thoại cho Phạm Quang T mua một gói ma túy 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), T đồng ý. Sau đó G và Đ đi vào nhà T. T đi ra đưa cho Đ một gói ma túy, Đ đưa cho T số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Đ và G đi về khu vực T 9, thị trấn L, Hòa Bình để sử dụng. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/04/2019, Công an huyện L phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trường G, đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 (một) ống thủy tinh hình trụ, bên trong ống có bám dính các chất màu vàng đục; 01 (một) chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có đục hai lỗ, một lỗ có gắn ống hút màu xanh; 01(một) bật lửa ga nhãn hiệu “Hoa Việt”
Khoảng 21 giờ ngày 22/04/2019, Nguyễn Giang L và Hoàng Văn C đến nhà Phạm Quang T để mua ma túy. T nhìn thấy C đến T đưa một gói ma túy cho L. L đưa cho T 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). L đang sử dụng ma túy ở xóm Đ, xã T, L, Hòa Bình thì bị Công an huyện L phát hiện bắt quả tang thu giữ: 01 (một) ống thủy tinh hình trụ, một đầu gắn ống hút màu hồng, giữa ống hút và ống thủy tinh có gắn băng dính màu đen; 01 (một) chai thủy tinh có nắp màu vàng bằng kim loại được đục hai lỗ, một lỗ có gắn ống hút màu hồng; 01(một) bật lửa ga nhãn hiệu “Hoa Việt”.
Ngày 22/4/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 04 đối với chỗ ở của Phạm Quang T thu giữ: trong chậu để đồ đạc dưới gầm gường phòng ngủ 01 (một) túi nilon màu trắng có viền xanh bên trong chứa chất các cục dạng đá màu trắng; thu giữ trên nóc tủ phía dưới bàn thờ 01 (một) gói nilon màu trắng viền đỏ bên trong có các cục dạng đá màu trắng; thu giữ phía sau loa đặt trên tủ 01 (một) túi nilon màu trắng có viền trắng bên trong chứa nhiều túi nilon nhỏ màu trắng có viền xanh.
Quá trình điều tra Phạm Quang T đã khai nhận bắt đầu bán ma túy từ đầu tháng 4/2019, bản thân T không sử dụng chất ma túy nhưng đi mua ma túy về bán cho các đối tượng sử dụng nhằm kiếm lời. Số ma túy Cơ quan CSĐT công an huyện L thu giữ Phạm Quang T đã đi mua của người đàn ông tên là S (không biết rõ tên tuổi, địa chỉ) tại khu vực xã T, huyện T, thành phố Hà Nội với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Phạm Quang T khai nhận đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều người cụ thể như sau:
Đã bán ma túy cho Hoàng Văn C hai lần. Lần thứ nhất vào ngày 18/04/2019. Lần thứ hai vào ngày 22/04/2019, C đi cùng L nhà ở L, L mỗi lần bán một gói ma túy với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Đã bán ma túy cho Bùi Văn N hai lần. Lần đầu tiên vào ngày 18/04/2019 T bán cho N một gói ma túy giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Lần thứ hai vào ngày 22/04/2019, T bán cho N một gói ma túy giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng cho nợ.
Đã bán ma túy cho Hoàng Xuân H hai lần. Lần đầu vào khoảng đầu tháng 4/2019, T không nhớ ngày cụ thể, H mua một gói ma túy của T giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), H đưa cho T 250.000đ (hai trăn năm mươi nghìn đồng). Lần thứ hai vào ngày từ 18 đến 21/04/2019, T đã bán ma túy cho H 01 gói ma túy giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Đã bán ma túy cho Hoàng Văn L một lần vào ngày 13/04/2019, L đi đến nhà T hỏi T còn ma túy không bán cho L một gói ma túy giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), T đồng ý bán ma túy cho L, L đưa cho T 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Đã bán ma túy cho Nguyễn Văn L1 một lần vào ngày 15/04/2019, L1 gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy, T đồng ý bán ma túy cho L1, sau đó L1 đi đến nhà T mua ma túy, L1 mua một gói ma túy của T với giá 300.000đ (ba trẳm nghìn đồng).
Đã bán cho Đinh Công K vào ngày 18/04/2019, K có nhắn tin qua ứng dụng Facebook cho T hỏi mua của T một gói ma túy, T đồng ý bán ma túy cho K, Sau đó K đi đến nhà T, K dừng xe ở lề đường trước cổng nhà T, T cầm một gói ma túy ra đưa cho K, K đưa cho T 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ hai lần. Lần thứ nhất vào ngày 21/04/2019 và lần thứ hai vào Ngày 17/04/2019 mỗi lần T bán cho Đ một gói ma túy giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Tổng số tiền Phạm Quang T thu được khi bán ma túy cho các đối là 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Số tiền trên T đã tiêu sài cá nhân hết.
Tại bản kết luận giám định số 2130/C09-TT2 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận mẫu vật chất màu vàng bám dính trong ống thủy tinh thu giữ của Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trường G gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và Kết luận giám định số 2131/C09-TT2 kết luận mẫu tinh thể bám dính trong ống thủy tinh thu giữ của Nguyễn Giang Long gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
Ngày 23/4/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định số 88 gửi phòng PC09 Công an tỉnh Hòa Bình trưng cầu giám định ma túy thu giữ của Phạm Quang T. Ngày 26/4/2019, phòng PC09 Công an tỉnh Hòa Bình có Kết luận giám định số 85/KLGĐ-CAT-PC09 kết luận chất dạng tinh thể màu trắng trong hai phong bì niêm phong gửi giám định có tổng khối lượng 3,81 gam (ba phẩy tám mươi mốt gam), là ma túy loại Methaphetamine.
Cáo trạng số 49/CT-VKSLS ngày 30/9/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện L truy tố bị cáo Phạm Quang T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, c khoản 2 điều 251 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L đề nghị truy tố bị cáo Phạm Quang T về tội “mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 xử phạt bị cáo từ 08 đến 09 năm tù.
Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS.
*Tịch thu tiêu hủy
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, một mặt ghi “MẪU GIÁM ĐỊNH MA TÚY”, cán bộ giám định: Đỗ Thành Công, ngày niêm phong 26 tháng 4 năm 2019, số nhận giám định số: 85 ngày 23 tháng 4 năm 2019, số thông báo KLGĐ số: 85 ngày 26 tháng 4 năm 2019. tên đối tượng Phạm Quang Thắng, tên mẫu vật Methaphetamine, số lượng 02, tổng khối lượng 3,81 gam. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, mặt trước ghi: "BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ, số: 2130/C09 (TT2); Mẫu vật hoàn trả sau giám định" mặt sau tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký của người liên quan
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, mặt trước ghi: " BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ, Số: 2131/C09 (TT2); Mẫu vật hoàn trả sau giám định" mặt sau tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký của người liên quan
- 01 (một) túi nilon màu trắng có viền màu trắng, bên trong có chứa nhiều túi nilon nhỏ có viền màu xanh.
- 01 (một) chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có đục hai lỗ, một lỗ có gắn ống hút màu xanh.
- 01 (một) chai thủy tinh có nắp màu vàng bằng kim loại được đục hai lỗ, một lỗ có gắn ống hút màu hồng.
- 02 (hai) bật lửa ga có nhãn hiệu Hoa Việt
*Tịch thu sung quỹ nhà 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu trắng, loại máy Galaxy J7, máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng.
* Truy thu số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) là số tiền Phạm Quang T bán ma túy mà có.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ: Biên bản bắt người, biên bản khám xét, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, kết luận giám định, biên bản xác minh, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu khác trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bản thân T không sử dụng chất ma túy nhưng đã mua ma túy về để bán cho nhiều người nghiện ma túy nhằm mục đích kiếm lời. Phạm Quang T đã khai nhận bắt đầu bán ma túy từ đầu tháng 4/2019, cụ thể như sau:
Đã bán ma túy cho Hoàng Văn C hai lần. Lần thứ nhất vào ngày 18/04/2019. Lần thứ hai vào ngày 22/04/2019 mỗi lần bán một gói ma túy với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Đã bán ma túy cho Bùi Văn Ng hai lần. Lần đầu tiên vào ngày 18/04/2019 T bán cho N một gói ma túy giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Lần thứ hai vào ngày 22/04/2019, T bán cho N một gói ma túy giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng N chưa trả tiền.
Đã bán ma túy cho Hoàng Xuân H hai lần. Lần đầu vào khoảng đầu tháng 4/2019, Thắng không nhớ ngày cụ thể, Thắng bán cho H một gói giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), H đưa cho T 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng). Lần thứ hai vào ngày từ 18 đến 21/04/2019, T đã bán ma túy cho H 01 gói ma túy giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng H chưa trả tiền.
Đã bán ma túy cho Hoàng Văn L một lần vào ngày 13/04/2019 một gói ma túy giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng do L không đủ tiền nên đưa cho T 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Đã bán ma túy cho Nguyễn Văn L1 một lần vào ngày 15/04/2019 một gói ma túy với giá 300.000đ (ba trẳm nghìn đồng).
Đã bán cho Đinh Công Kiên vào ngày 18/04/2019 một gói ma túy với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ hai lần. Lần thứ nhất vào ngày 21/04/2019 và lần thứ hai vào Ngày 17/04/2019 mỗi lần T bán cho Đ một gói ma túy giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Như vậy, hành vi của Phạm Quang T đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều người khác khau đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ xung 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng, vi phạm Luật phòng chống ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm ngăn ngừa tội phạm và trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo.
Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự thú ra các hành vi mua bán ma túy cho các đối tượng khác đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 BLHS. Nên HĐXX xét cho bị cáo được hưởng tình tiết này là phù hợp.
Hội đồng xét xử cũng xét thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập đang nuôi con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ già yếu nên không áp dụng hình phạt bổ xung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông tên Sơn đã bán ma túy cho bị cáo T, bị cáo khai được S giới thiệu là ở xã T, L, Hòa Bình, T không biết tên tuổi cụ thể. Cơ quan CSĐT công an huyện L đã xác minh tại Công an xã T, L, Hòa Bình và được Công an xã T cung cấp trên địa bàn xã không có đối tượng nào có đặc điểm như mô tả của Phạm Quang T. Cơ quan CSĐT Công an huyện L tiến hành tách ra để tiếp tục xác minh, khi nào xác minh được sẽ tiến hành xử lý đúng theo quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
Đối với các đối tượng Nguyễn Trường G, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Giang L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/NĐ-CP Công an huyện Lương Sơn đã tiến hành xử phạt hành chính, nên HĐXX không xem xét.
HĐXX căn cứ điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS nhận thấy cần xử lý vật chứng trong vụ án đã thu giữ được như sau:
*Tịch thu tiêu hủy
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, một mặt ghi “MẪU GIÁM ĐỊNH MA TÚY”, cán bộ giám định: Đỗ Thành Công, ngày niêm phong 26 tháng 4 năm 2019, số nhận giám định số: 85 ngày 23 tháng 4 năm 2019, số thông báo KLGĐ số: 85 ngày 26 tháng 4 năm 2019. Tên đối tượng Phạm Quang Thắng, tên mẫu vật Methaphetamine, số lượng 02, tổng khối lượng 3,18 gam. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, mặt trước ghi: "BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ, số: 2130/C09 (TT2); Mẫu vật hoàn trả sau giám định" mặt sau tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký của người liên quan
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, mặt trước ghi: " BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ, Số: 2131/C09 (TT2); Mẫu vật hoàn trả sau giám định" mặt sau tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký của người liên quan
- 01 (một) túi nilon màu trắng có viền màu trắng, bên trong có chứa nhiều túi nilon nhỏ có viền màu xanh.
- 01 (một) chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có đục hai lỗ, một lỗ có gắn ống hút màu xanh.
- 01 (một) chai thủy tinh có nắp màu vàng bằng kim loại được đục hai lỗ, một lỗ có gắn ống hút màu hồng.
- 02 (hai) bật lửa ga có nhãn hiệu Hoa Việt
*Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu trắng, loại máy Galaxy J7, máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng.
* T đã bán ma túy cho các đối tượng nghiện ma túy thu được số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng), HĐXX xét thấy đây là số tiền phạm tội mà có nên cần truy thu số tiền 2.600.000 đồng đối với Phạm Quang T.
Về án phí: Bị cáo Phạm Quang T phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Phạm Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Quang Thắng 08 năm 06 tháng (Tám năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2019.
2. Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS:
*Tịch thu tiêu hủy
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, một mặt ghi “MẪU GIÁM ĐỊNH MA TÚY”, cán bộ giám định: Đỗ Thành Công, ngày niêm phong 26 tháng 4 năm 2019, số nhận giám định số: 85 ngày 23 tháng 4 năm 2019, số thông báo KLGĐ số: 85 ngày 26 tháng 4 năm 2019. tên đối tượng Phạm Quang Thắng, tên mẫu vật Methaphetamine, số lượng 02, tổng khối lượng 3,18 gam. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, mặt trước ghi: "BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ, số: 2130/C09 (TT2); Mẫu vật hoàn trả sau giám định" mặt sau tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký của người liên quan
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, mặt trước ghi: " BỘ CÔNG AN, VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ, Số: 2131/C09 (TT2); Mẫu vật hoàn trả sau giám định" mặt sau tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của Viện khoa học hình sự Bộ Công an và chữ ký của người liên quan
- 01 (một) túi nilon màu trắng có viền màu trắng, bên trong có chứa nhiều túi nilon nhỏ có viền màu xanh.
- 01 (một) chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có đục hai lỗ, một lỗ có gắn ống hút màu xanh.
- 01 (một) chai thủy tinh có nắp màu vàng bằng kim loại được đục hai lỗ, một lỗ có gắn ống hút màu hồng.
- 02 (hai) bật lửa ga có nhãn hiệu Hoa Việt
* Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu trắng, loại máy Galaxy J7, máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng.
* Truy thu số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) đối với Phạm Quang T.
(Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2019 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án huyện L).
3. Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Phạm Quang T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hòa Bình;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp HB;
- VKSND tỉnh Hòa Bình ;
- VKSND H. Lương Sơn;
- CA H. Lương Sơn;
- THADS H. Lương Sơn;
- UBND xã Trường Sơn ;
(đã ký)
- UBND xã Tân Vinh;
- Lưu HS;
Trần Đức Thịnh
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - Sở Tư pháp HB; - VKSND tỉnh Hòa Bình ; - VKSND H. Lương Sơn; - CA H. Lương Sơn; - THADS H. Lương Sơn; - UBND xã Trường Sơn ; - UBND xã Tân Vinh; - Lưu HS; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đức Thịnh |