- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Th - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Th phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2019/HS-ST Ngày: 15-5-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Trường Phát.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quang Nghĩa.
2. Bà Hoàng Thị Thanh Hường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Tiến - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Vào ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại Nhà văn hóa ấp 2B, xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Đặng Th, sinh năm 1976 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn M, sinh năm 1935 và bà Lê Thị S, sinh năm 1942; Chồng Lê Thanh H, sinh năm 1976 (đã ly hôn) và Phạm Th, sinh năm 1980 (đã ly hôn); Có 02 người con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26 tháng 12 năm 2018. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Võ Minh V, sinh năm 1993. Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)
2. Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1998. Nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. (Vắng)
3. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)
4. Anh Nguyễn V, sinh năm 1993. Nơi cư trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)
5. Anh Lương Tấn T, sinh năm 2001. Nơi cư trú: ấp A, xã B, thị xã L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng)
Người đại diện hợp pháp của anh Lương Tấn T: ông Lương Ngọc Th, sinh năm 1975. Nơi cư trú: ấp A, xã B, thị xã L, tỉnh Đồng Nai. Là cha ruột của anh Lương Tấn T. (Vắng)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 00 phút, ngày 26/12/2018, tại quán cà phê “VH” thuộc ấp B, xã X, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai do bị cáo Đặng Th làm chủ. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Xuân Lộc phối hợp cùng Công an xã Xuân Bắc bắt quả tang bị cáo Đặng Th đang có hành vi bán trái phép 01 tép ma túy tổng hợp cho anh Võ Minh V với giá 200.000 đồng. Thu giữ 01 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín, kích thước 0,5x02cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng anh Võ Minh V khai là ma túy tổng hợp vừa mua của Đặng Th.
Qua kiểm tra phát hiện tại vị trí gốc cây Bằng lăng cách bức tường buồng lồi nhà bị cáo Đặng Th 0,8m có cất giấu các vật nghi là ma túy, gồm:
- 01 gói nylon hàn kín, kích thước 04 x 08cm và 09 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín, kích thước 0,5x2,5cm bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng;
- 01 đoạn ống nhựa màu đen hàn kín, kích thước 01x02cm và 01 đoạn ống nhựa màu đen, hàn kín, kích thước 01x09cm, bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng.
Bị cáo Đặng Th khai nhận tất cả những tang vật trên là ma túy tổng hợp đang cất giấu để bán cho các đối tượng nghiện. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã lập biên bản niêm phong theo quy định.
Qua quá trình điều tra, bị cáo Đặng Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Vào khoảng tháng 9 năm 2018, bị cáo Đặng Th đã nhận bán ma túy cho một thanh niên tên C ở Biên Hòa không rõ lai lịch tại quán cà phê VH, thuộc ấp 2B, xã Xuân Bắc, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai do bị cáo Đặng Th làm chủ. C đến giao ma túy được 03 lần, mỗi lần 01 gói ma túy tổng hợp với giá 11.000.000 đồng. Sau mỗi lần bán số ma túy trên, bị cáo Đặng Th được C trả công số tiền là 3.000.000 đồng. Sau khi có ma túy, bị cáo Đặng Th tự chia ma túy thành nhiều tép nhỏ để bán cho các đối tượng nghiện với giá mỗi tép ma túy từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng. Khi người nghiện cần mua ma túy sẽ điện thoại cho bị cáo Đặng Th qua số máy 0969.701.670 hoặc đến gặp bị cáo Đặng Th trực tiếp tại quán cà phê “VH” để thỏa thuận mua bán ma túy. Cụ thể, bị cáo Đặng Th đã nhiều lần bán ma túy cho những đối tượng nghiện sau:
1. Bị cáo Đặng Th đã bán cho anh Lương Tấn T được 03 lần, 03 tép ma túy, với tổng số tiền 900.000 đồng, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ ngày 16/12/2018, bán 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng;
Lần thứ 2: Vào lúc 18 giờ ngày 19/12/2018, bán 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng;
Lần thứ 3: Vào khoảng 17 giờ ngày 22/12/2018, bán 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng.
2. Bị cáo Đặng Th đã bán cho anh Nguyễn Văn T được 02 lần, 02 tép ma túy với tổng số tiền 400.000 đồng, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào tối ngày 15/12/2018, bán 01 tép ma túy với giá 200.000 đồng;
Lần thứ hai: Vào khoảng 19 giờ ngày 22/12/2018, bán 01 tép ma túy với giá 200.000 đồng;
3. Bị cáo Đặng Th đã bán cho anh Nguyễn Hữu T được 02 lần, 02 tép ma túy với tổng số tiền 400.000 đồng, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ ngày 19/12/2018, bán 01 tép ma túy với giá 200.000 đồng;
Lần thứ 2: Vào khoảng 14 giờ ngày 23/12/2018, bán 01 tép ma túy với giá 200.000 đồng.
4. Bị cáo Đặng Th đã bán cho anh Nguyễn V được 03 lần, 03 tép ma túy với tổng số tiền 1.200.000 đồng, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng cuối tháng 9/2018, bán 01 tép ma túy với giá 200.000 đồng;
Lần thứ 2: Vào khoảng 11 giờ ngày 24/12/2018, bán 01 tép ma túy với giá 500.000 đồng;
Lần thứ 3: Vào khoảng 13 giờ ngày 24/12/2018, bán 01 tép ma túy với giá 500.000 đồng.
5. Bị cáo Đặng Th đã bán cho anh Võ Minh V được 03 lần, 04 tép ma túy với tổng số tiền 800.000 đồng, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng cuối tháng 11/2018, bán 02 tép ma túy với giá 300.000 đồng;
Lần thứ 2: Vào trưa ngày 22/12/2018, bán 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng;
Lần thứ 3: Vào lúc 13 giờ ngày 26 tháng 12 năm 2018, bán 01 tép ma túy với giá 200.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang.
Vật chứng vụ án thu giữ:
- 01 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín, kích thước 0,5x02cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, thu giữ trên người anh Võ Minh V, được niêm phong ký hiệu (M1);
- 01 gói nylon hàn kín, kích thước 04x08cm và 09 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín, kích thước 0,5x2,5cm bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng, 01 đoạn ống nhựa màu đen hàn kín, kích thước 01 x 02cm; 01 đoạn ống nhựa màu đen, hàn kín, kích thước 01 x 09cm, bên trong đều chứa các hạt tinh thể mà trắng thu giữ tại nơi ở của bị cáo Đặng Th, được niêm phong ký hiệu (M2);
- 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen cùng sim số 0969701670.
- Số tiền 1.770.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo Đặng Th;
- Số tiền 1.930.000 đồng do gia đình bị cáo Đặng Th đã tự nguyện giao nộp ngày 19 tháng 02 năm 2019.
Bản kết luận giám định số 78/PC09-GĐMT ngày 02 tháng 01 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0848 gam, loại Methamphetamine.
- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 14,4662 gam, loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 33/CT-VKSXL ngày 06 tháng 3 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố Đặng Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Tài liệu chứng cứ thu thập hoàn toàn khách quan, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tự thú đối với những lần phạm tội trước, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, là lao động chính trong gia đình, có con còn nhỏ.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ:
- Điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 09 năm tù.
- Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong số 78/PC09-GĐMT ngày 02 tháng 01 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; Tịch thu sung công: số tiền 3.700.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia kèm sim điện thoại số 0969701670.
+ Đối với đối tượng tên C, người đã giao ma túy cho bị cáo Đặng Th do chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quản Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc sẽ tiếp tục điều tra xác minh làm rõ để xử lý sau.
+ Đối với anh Võ Minh V, anh Lương Tấn T, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Hữu T và anh Nguyễn V, là các đối tượng đã mua ma túy của bị cáo Đặng Th chỉ nhằm mục đích sử dụng, không nhằm mục đích mua bán nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo Đặng Th tự bào chữa: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với bản cáo trạng, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình trái với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để có cơ hội sớm về hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2018 đến ngày 26 tháng 12 năm 2018, bị cáo Đặng Th đã bán ma túy cho anh Lương Tấn T được 03 lần, 03 tép ma túy thu lợi bất chính số tiền 900.000 đồng; bán anh cho anh Nguyễn Văn T được 02 lần, 02 tép ma túy, thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng; bán cho anh Nguyễn Hữu T được 02 lần, 02 tép ma túy, thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng; bán anh cho anh Nguyễn V được 03 lần, 03 tép ma túy, thu lợi bất chính số tiền 1.200.000 đồng; bán cho anh Võ Minh V được 03 lần, 04 tép ma túy, thu lợi bất chính số tiền 800.000 đồng. Tổng cộng, bị cáo Đặng Th đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy được 13 lần, 14 tép ma túy, thu lợi bất chính số tiền 3.700.000 đồng. Hành vi của bị cáo Đặng Th đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đối với các anh Lương Tấn T, Nguyễn Văn T, Nguyễn Hữu T, Nguyễn V và Võ Minh V, là người đã mua ma túy của bị cáo để sử dụng nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với đối tượng tên C đã giao ma túy cho bị cáo, do chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ để xử lý sau là phù hợp.
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là công dân có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo biết được ma túy tổng hợp là chất ma túy bị nghiêm cấm mua bán, sử dụng trái phép. Nhưng chỉ vì cần có tiền để lo kinh tế gia đình mà bị cáo đã có hành vi bán trái phép ma túy cho các đối tượng nghiện khác. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ 14,5510 gam Methamphetamine để sử dụng và đã 13 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã bán trái phép chất ma túy cho 05 đối tượng nghiện khác nhau, nên chỉ áp dụng 02 tình tiết định khung hình phạt là “methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30gam” và “Phạm tội 02 lần trở lên”, mà không áp dụng tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” và quyết định hình phạt đối với bị cáo theo điểm b và i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là phù hợp.
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy trước đó, tự nguyện giao nộp số tiền do phạm tội mà có, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đã ly hôn chồng và đang nuôi con nhỏ. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về vật chứng: 01 phong bì được niêm phong số 78/PC09-GĐMT ngày 02 tháng 01 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai bên trong có chứa Methaphetamine là vật cấm tàng trữ, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Sim điện thoại di động số 0969701670 bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch tiêu hủy.
Số tiền 3.700.000 đồng thu giữ là tiền bị cáo có được do phạm tội mà có và 01 điện thoại di động hiệu Nokia bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội hiện còn giá trị sử dụng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Đặng Th phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt: bị cáo Đặng Th - 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2018.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì được niêm phong số 78/PC09-GĐMT ngày 02 tháng 01 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 3 năm 2019.
Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: số tiền 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm ngàn đồng) và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 3 năm 2019 và Giấy nộp tiền vào tài khoản tại Kho bạc nhà nước Xuân Lộc ngày 07 tháng 3 năm 2019.
Tuyên tịch tiêu hủy: 01 (Một) sim điện thoại di động số 0969701670 hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 3 năm 2019.
- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đặng Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đặng Th được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Anh Lương Tấn T, ông Lương Ngọc Th, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Hữu T, anh Nguyễn V và anh Võ Minh V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Công an huyện Xuân Lộc; - CCTHADS huyện Xuân Lộc; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trần Trường Phát |