vanban.org

Bản án 52/2019/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T v/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Đức H.

Buộc ông Nguyễn Đức H trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T, tổng số tiền 50.026.718đồng, trong đó: Tiền gốc: 21.798.959 đồng; Nợ lãi : 28.227.759 đồng (lãi tạm tính đến ngày 27-9-2019); Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Đức H còn phải tiếp Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa VPBank - Nguyễn Đức H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T v/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Đức H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2019/DS – ST.
Ngày: 27-9-2019.
V/V tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Cúc Các Hội thẩm nhân dân: 1 .Ông Đặng Song Hoàn

2. Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Ng ọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2019/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng tín d ụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: /2019/QĐXX- ST ngày 26 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: /2019/QĐHPT-ST ngày 11-9-2019, giữa các đương sự: 1.Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T Trụ sở: Phường L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch hội

đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật;

Ông Đỗ Thành T, chức vụ: Phó giám đốc khối pháp chế và kiểm soát tuân thủ,

VPBank Hội sở kiêm Phó tổng giám đốc VPBank -AMC (là người đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền số: 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02-3-2018 của chủ tịch hội đồng quản trị VPBank);

Ông Đỗ Thành T ủy quyền lại cho bà Nguyễn Thị Minh H, chức vụ chuyên viên

tố tụng -VPBank(Theo văn bản ủy quyền số: 56306/2019/UQ-VPB ngày 20-4-2019 của Phó giám đốc khối pháp chế và kiểm soát tuân thủ, VPBank Hội sở kiêm Phó tổng giám đốc VPBank –AMC). (có mặt)

2.Bị đơn: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1986.(vắng mặt)

Địa chỉ: Đường T, Phường A, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Châu Thị Diễm T

Địa chỉ: Đường T, Phường A, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 20-4-2019, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa

đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Minh H trình bày:

Ngày 18-5-2015, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T (tên viết tắt là

VPBank) – Chi nhánh Gò Vấp và ông Nguyễn Đức H, đã ký kết Đơn đề ghị mở tài khoản, phát hàn thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng(gọi là Hợp đồng tín dụng). Trên cơ sở đó, Ngân hàng đã cho Ông H vay số tiền là 26.000.000đồng, mục đích vay: sửa nhà; Lãi suất: 30%/năm, thời hạn vay 60 tháng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, kể từ lúc giải ngân, Ông H đã thanh toán cho

VPBank được tổng số tiền cả gốc và lãi là: 15.058.704 đồng (Trong đó nợ gốc là 4.201.041đồng, 10.857.663 đồng tiền lãi). (Chi tiết theo sao kê tài khoản đính kèm). Kể từ sau ngày 14-12-2016, Ông H đã không tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho VPBank nên khoản vay chuyển nợ quá hạn.

Phía Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ để yêu cầu thanh toán gốc và lãi vay quá hạn

cho Ngân hàng nhưng Ông H vẫn không thực hiện thanh toán nợ đúng hạn. Mặc dù, Ngân hàng đã tạo điều kiện về thời gian cho Ông H trả nợ nhưng Ông H vẫn không có ý thức trả dứt nợ cho ngân hàng.

Xét thấy bên vay đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trả nợ, do đó VPBank đã

chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn và thông báo chấm dứt việc thực hiện đối với hợp đồng tín dụng nêu trên. Nay Ngân hàng TMCP Việt Nam T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức H trả cho VPBank số nợ gốc và nợ lãi quá hạn tạm tính đến hết ngày 27-9-2019 là: 50.026.718đồng, trong đó nợ gốc là 21.798.959 đồng và nợ lãi 28.227.759 đồng do vi phạm hợp đồng vay. Ngoài ra Ông H còn phải trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng tính từ ngày kế tiếp của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong các khoản nợ nêu trên;

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Việt Nam T yêu cầu

ông Nguyễn Đức H và bà Châu Thị Diễm T liên đới trả số nợ nêu trên cho Ngân hàng. Vì số tiền Ông H vay mục đích là sửa nhà, hàng tháng tiền lãi đều do bà T trả.

2. Bị đơn- ông Nguyễn Đức H trong suốt quá trình tố tụng đã được Tòa án tống

đạt hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Châu Thị Diễm T trình bày tại

phiên tòa, bà T không biết việc chồng bà là Ông H vay tiền của Ngân hàng TMCP Việt Nam T. Ông H không dùng số tiền vay để chi tiêu trong gia đình hoặc sửa nhà như đại diện Ngân hàng trình bày. Bà cũng không ký vào hợp đồng vay, nhưng do Ông H là chồng nên bà chấp nhận cùng Ông H trả nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phá t biểu ý kiến:

Về tố tụng : Trong quá trinh giải quyết vu ̣ án Thẩm phán đã thực hiện đúng

̀ nhiệm vụ, quyền hạn của mình, còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, Hô ̣i đồng xét xử và Thư ký tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đương sự có mặt tại phiên tòa chấp hành tốt các quy định pháp luật tố tụng, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung: Xét yêu cầu của VPbank đề nghị Tòa án giải quyết theo hướng chấp

nhận yêu cầu khởi kiện của VPbank, tuyên buộc Ông H phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký.

Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Việt Nam T về việc yêu cầu bà

T liên đới trả nợ cùng với Ông H.Vì bà T không ký vào hợp đồng tín dụng, Ông H vay tiêu dùng với mục đích cá nhân. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà T đồng ý cùng Ông H trả nợ cho Ngân hàng nên ghi nhận sự tự nguyện của bà T.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đương sự

không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới và cam kết không còn chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra

tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

.Về tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng khởi

kiện“ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với ông Nguyễn Đức H, Ông H có nơi cư trú tại địa chỉ: Số 1612/41/10 Đường 30-4, Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên xác định đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại thời điểm ký kết hợp đồng, ông Nguyễn Đức H cung cấp địa chỉ tại số

1612/41/10 Đường 30-4, Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau đó,Ông H thay đổi nơi cư trú gắn liền với việc thực hiện nghĩa vụ nhưng không thông báo cho nguyên đơn là vi phạm khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xác định bị đơn cố tình dấu địa chỉ theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị Quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án niêm yết tại địa chỉ và tại Uỷ ban nhân dân xã theo địa chỉ bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cung cấp tại thời điểm ký kết hợp đồng để xét xử vắng mặt bị đơn,theo khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu của nguyên đơn, thấy: Ngày 18-5-2015, giữa Ngân hàng Thương

mại cổ phần Việt Nam T với ông Nguyễn Đức H đã ký kết Đơn đề ghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng (gọi là Hợp đồng tín dụng). Trên cơ sở đó, Ngân hàng đã cho Ông H vay số tiền là 26.000.000đồng, Lãi suất: 30%/năm, thời hạn vay 60 tháng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ông H đã thanh toán cho VPBank được tổng

số tiền cả gốc và lãi là: 15.058.704 đồng (Trong đó nợ gốc là 4.201.041đồng, 10.857.663 đồng tiền lãi). Sau đó, Ông H không tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho VPBank nên ngày 14-12-2016 khoản vay chuyển nợ quá hạn.

. Xét về số nợ gốc, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn theo yêu cầu của nguyên đơn nêu trên, thấy:

Theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng đã ký, ông Nguyễn Đức H đã vi

phạm nghĩa vụ trả lãi hàng tháng, cũng như nghĩa vụ trả gốc khi đến kỳ hạn trả nợ theo hợp đồng, nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T đã chuyển nợ quá hạn và tính lãi trong hạn và quá hạn với mức lãi suất, thời gian vi phạm theo đúng các thoả thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã cam kết, cũng như các quy định của Ngân hàng Nhà nước tại từng thời điểm và phù hợp với Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Như vậy, đã đủ căn cứ buộc ông Nguyễn Đức H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T tổng số tiền đã vay, lãi suất theo hợp đồng tín dụng nêu trên là: 50.026.959đồng, trong đó:

Tiền gốc: 21.798.959đồng; tiền lãi: 28.227.759 đồng;

. Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T về việc yêu

cầu bà Châu Thị Diễm T phải có nghĩa vụ liên đới cùng ông Nguyễn Đức H trả số nợ gốc, nợ lãi nêu trên, thấy: Tại phiên tòa bà T cho biết bà không biết việc chồng bà là Ông H vay tiền của Ngân hàng TMCP Việt Nam T. Ông H không dùng số tiền vay đó để chi tiêu trong gia đình hoặc sửa nhà. Bà cũng không ký vào Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng. Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V không chứng minh được bà T là người nhận tiền và sử dụng tiền nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà T phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng Ông H. Tuy nhiên, bà T đồng ý cùng Ông H trả nợ cho Ngân hàng. Xét thấy, lời đề nghị của bà T là tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

.Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Đức H phải chịu án phí sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng VPbank. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T . Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố Tụng Dân sự.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T v/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Đức H.

Áp dụng các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Buộc ông Nguyễn Đức H trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T, tổng số tiền 50.026.718đồng, trong đó: Tiền gốc: 21.798.959 đồng; Nợ lãi : 28.227.759 đồng (lãi tạm tính đến ngày 27-9-2019);

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Đức H còn phải tiếp

tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng VPbank thì lãi suất mà Ông H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng VPbank theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng VPbank.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Châu Thị Diễm T về việc cùng Ông H liên đới

thanh toán số nợ trên choNgân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng. 2. Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Ông Nguyễn Đức H phải chịu án phí dân sự thẩm 2.501.336đ (Hai triệu năm trăm linh một ngàn ba trăm ba mươi sáu đồng).

+ Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 1.140.000đ (đồng) cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007124 ngày 31-5-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu để yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm,(đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa án nhân dân tỉnh BRVT; -Viện kiểm sát nhân dân TPVT;

- Chi cục thi hành án dân sự TPVT;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án./.

Hoàng Thị Cúc

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đắc Liệt Võ Văn Dũng

Hoàng Thị Cúc

Cỡ chữ