- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng - Cường"
- Tòa quyết gì? 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2019/DS-ST Ngày: 30/7/2019. V/v tranh chấp:“Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lệ Thương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Long.
2. Bà Nguyễn Thị Hơn.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng – Thư ký Toà án nhân dân
thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại Toà án nhân dân thành phố M tiến hành
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 122/2019/TLST-DS ngày
08/4/2019 về vụ án tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 65/2019/QĐST-DS ngày 18/6/2019 và quyết định hoãn phiên toà
số 47/2019/QĐST-DS ngày 09/7/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
Địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, số 109, Trần Hưng Đạo, phường Cửa
Nam, quận HK, thành phố HN.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S – Chức vụ: Tổng Giám đốc
Đại diện ủy quyền: Ông Trần Văn C – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh.
Theo Quyết định uỷ quyền số: 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20/6/2017.
Địa chỉ: Số 12C, MKKN, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Hồ Hoàn V, sinh năm 1990 (Có
mặt).
Địa chỉ: Số 70A, Hùng Vương, Phường Y, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Theo Quyết định uỷ quyền số 57/2019/QĐ-LPB-TG ngày 14/3/2019.
2. Bị đơn: Anh Võ Quốc C, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 1035, ấp PT, xã TMC, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn anh Lê Hồ Hoàn V trình bày:
Ngày 12/01/2017, giữa anh Võ Quốc C với Ngân hàng Thương mại cổ
phần B - Chi nhánh Tiền Giang ký Hợp đồng tín dụng số
29/2017/HĐTD/CNTienGiang để vay số tiền vay 200.000.000 đồng, mục đích
vay tiêu dùng, thời hạn 60 tháng (từ ngày 13/01/2017 đến ngày 13/01/2022), vay
tín chấp theo đơn vị liên kết là Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang, lãi suất 13%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, giải ngân trong 02 ngày, tại 02 khế ước sau:
- Khế ước số 01/2017/KUNN/CNTG ký ngày 12/01/2017 số tiền
105.000.000 đồng, thời hạn trả 60 tháng, mỗi tháng trả số tiền 1.750.000 đồng
- Khế ước số 02/2017/KUNN/CNTG ký ngày 13/01/2017 số tiền
95.000.000 đồng, thời hạn 60 tháng, mỗi kỳ trả số tiền 1.580.000 đồng.
Theo 02 khế ước mỗi tháng trả 3.330.000.000 đồng, thời gian bắt đầu
thực hiện ngày 15/02/2017 kết thúc 13/01/2022.
Sau khi vay anh C thanh toán 21 kỳ (từ kỳ ngày 15/02/2017 đến kỳ ngày
15/10/2018) và 01 phần vốn gốc của kỳ thứ 22 (kỳ ngày 15/11/2018 là 66.627 đồng). Tổng số tiền gốc đã thanh toán là 69.996.627 đồng đến nay anh C không thanh toán tiếp cho Ngân hàng.
Do anh C không thực hiện đúng cam kết trong Hợp đồng tín dụng số
29/2017/HĐTD/CNTienGiang ngày 12/01/2017, mặc dù Ngân hàng đã tạo mọi điều kiện nhưng anh C không hợp tác; Nay anh Vũ đại diện ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần B yêu cầu anh C phải thanh toán toàn bộ tiền gốc, lãi và chấm dứt Hợp đồng tín dụng số 29/2017/HĐTD/CNTienGiang ngày 12/01/2017 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần B với anh Võ Quốc C đã ký kết. Tổng số tiền phải trả đến ngày 15/02/2019 là 136.480.874 đồng, trong đó vốn gốc 130.003.373 đồng và lãi tạm tính là 6.478.501 đồng; phần lãi phát sinh sau ngày 15/11/2018 sẽ được tính theo lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất vay trong hạn (tức là 150% x 12,75%/năm) và được tính cho đến khi anh C thanh toán hết nợ cho Ngân hàng; trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
* Anh Võ Quốc C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh C không đến tham gia các phiên họp kiểm tra giao nộp, tiêp cận, công khai chứng cư và hòa giải và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến trả lời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần B và anh
Võ Quốc C là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về tố tụng: Bị đơn anh Võ Quốc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
02 lần để xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với anh C.
[3] Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng Thương mại cổ
phần B yêu cầu anh Võ Quốc C phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 130.003.373 đồng và lãi tính đến ngày 30/7/2019 số tiền 18.476.019 đồng (trong đó: lãi trong hạn là 17.792.598 đồng; lãi quá hạn 683.621 đồng), tổng cộng 148.479.330 đồng của Hợp đồng tín dụng số 29/2017/HĐTD/CNTienGiang ngày 12/01/2017, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu tính lãi quá hạn là 150% lãi suất vay trong hạn sau ngày xét xử.
[4] Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần B, Hội đồng xét xử
nhận thấy căn cứ vào chứng cứ do Ngân hàng cung cấp là Hợp đồng tín dụng số
29/2017/HĐTD/CNTienGiang ngày 12/01/2017 được thể hiện tại 02 Giấy đề
nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 01/29/2017/KUNN/CNTG ngày
12/01/2017 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số
01/29/2017/KUNN/CNTG ngày 13/01/2017 thể hiện anh C có vay của Ngân
hàng Thương mại cổ phần B số tiền 200.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay
anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để xét xử nhưng anh C vẫn vắng
mặt không lý do cho thấy anh không có thiện chí trả nợ. Do đó, cần buộc anh C
phải trả số tiền vốn 130.003.373 đồng và lãi tạm tính là 18.476.019 đồng, tổng
cộng
148.479.330
đồng
của
Hợp
đồng
tín
dụng
số
29/2017/HĐTD/CNTienGiang ngày 12/01/2017 là phù hợp qui định tại Điều
463 của Bộ luật dân sự.
[5] Theo án lệ số 08/2016AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao thông qua và công bố theo Quyết định số 689/QĐ ngày 17/10/2016
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử
sơ thẩm, anh Võ Quốc C còn phải tiếp tục chịu thêm khoản tiền lãi quá hạn của
số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong
Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo
từng kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà anh C phải tiếp tục thanh toán
cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho
phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
[6] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Anh Võ Quốc C phải chịu án phí theo quy
định pháp luật; Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014070 ngày 08/4/2019.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Điều 91, Điều 96 Luật các tổ chức tín dụng;
- Nghị quyết 01/2019/NQ ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội khóa 14 ngày 30/12/2016 về mức thu án phí lệ phí của Tòa
án.
- Áp dụng án lệ số 08/2016AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao thông qua và công bố Quyết định số 689/QĐ ngày 17/10/2016 của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại cổ
phần B.
- Buộc anh Võ Quốc C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ
phần B số tiền vốn 130.003.373 đồng và lãi tính ngày 30/7/2019 là 18.476.019
đồng, tổng cộng 148.479.330 đồng của Hợp đồng tín dụng số 29/2017/HĐTD/CNTienGiang ngày 12/01/2017; thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh Võ Quốc C còn phải
tiếp tục chịu thêm khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà anh C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
2/ Về án phí:
- Anh Võ Quốc C phải chịu 7.423.967 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền 3.412.000
đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0014070 ngày 08/4/2019 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
3/ Ngân hàng Thương mại cổ phần B được quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Võ Quốc C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên án vào lúc 10 giờ 05 phút cùng ngày 30/7/2019 có mặt anh Lê Hồ
Hoàn V; vắng mặt anh Võ Quốc C.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; - VKSND thành phố M; - Chi Cục THA dân sự TP.M; - Các đương sự: + Ngân hàng Thương mại cổ phần B- Chi nhánh Tiền Giang + Anh Lê Hồ Hoàn V; + Anh Võ Quốc C; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Lệ Thương |