- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn Đ - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 52/2018/HSST Ngày 13-3-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Châu Hồng Nga;
Ông Tƣ̀ Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2018/HSST ngày 25 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 42/2018/HSST-QĐ ngày 26 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn Đ, sinh năm 1984, tại tỉnh A; thƣờng trú: Số 193, đƣờ ng C, khóm 6, phƣờ ng C, thành phố C, tỉnh A; chỗ ở: Số 373/10, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh Bình D; nghề nghiệp: Thợ làm tha ̣ch cao; trình độ học vấn: Lớp 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thi ̣ Thu V (đa chết); bị cáo có 01 ngƣỡ
̀ i em sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/11/2017. Có mặt.
Ngườ i là m chứ ng:
1.Ông Hoàng Mạnh D, sinh năm 1979; thƣờ ng trú : Số 3B/19, khu phố B, phƣờ ng B, thị xã D, tỉnh B, vắng mă ̣t;
2. Ông Lƣu Văn L, sinh năm 1972; thƣờ ng trú: Số 33/12, khu phố T , phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B, vắng mă ̣t;
3. Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1997; thƣờ ng trú: Số 71/5, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D, tỉnh B, vắng mă ̣t;
4. Ông Pha ̣m Hoàng Anh T , sinh năm 1976; thƣờ ng trú : Khu phố B, phƣờ ng A, thị xã D, tỉnh B, vắng mă ̣t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Tuấn Đ là đối tƣợng sƣ̉ du ̣ng trái phép chất ma túy . Khoảng 11 giờ ngày 16/11/2017, Đ thuê xe chở đến khu cầu Đ thuô ̣c đi ̣a bàn quâ ̣n B, Thành phố H gă ̣p ngƣờ i đàn ông tên T để mua 2.000.000 đồng ma túy thuô ̣c loa ̣i Methamphetamine đƣợc bảo quản trong 04 gói nylon (hàn kín), 01 nói nylon (miê ̣ng kéo) và 500.000 đồng ma túy da ̣ng Heroin đƣợc bảo quản trong 01 gói giấy ba ̣c. Sau đó, Đ đem số ma túy vƣ̀ a mua về phòng tro ̣ tại số 373/10, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D , tỉnh B cất giƣ̃ . Khoảng 12 giờ ngày 18/11/2007, Đ rũ Hoàng Mạnh D qua phòng tro ̣ chơi, Đ và D đi lên gác còn Nguyễn Thi ̣ Yến N bạn gái của Đ đang rƣ̉ a chén ở bếp . Đ lấy 01 gói giấy bạc bên trong có chƣ́ a Heroin để Đ và D cùng sử dụng. Trong lúc cả hai đang sƣ̉ du ̣ng ma túy thì bị lực lƣợng Công an phƣờ ng Đ , thị xã D, tỉnh B đến kiểm tra , phát hiện tại chỗ ngồi của Đ và D có 01 gói giấy bạc chứa Heroin ; 03 ống kim tim trong túi quần Đ đang mă ̣c; bên góc tƣờng trên gác có 01 túi vải chƣ́ a 04 gói nylon hàn kín và 01 gói nylon miệng kéo dính chƣ́ a ma túy Methamphetamine , 01 bô ̣ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 cây kéo inox.
Vâ ̣t chƣ́ ng thu giƣ̃ bao gồm : 04 gói nylon hàn kín và 01 gói nylon miệng kéo dính đề u chƣ́ a ma túy Methamphetamine , 01 gói giấy ba ̣c chƣ́ a ma túy Heroin, 01 bô ̣ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 cây kéo inox.
Căn cứ kết luận giám định số 538/MT-PC54 ngày 27/11/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luâ ̣n : Tinh thể màu trắng có trong 04 gói nylon hàn kín và 01 gói nylo n miê ̣ng kéo dinh là ma túy loa ̣i
́ Methamphetamine có trọng lƣợng 3,9761 gam; chất màu trắng có trong 01 gói giấy ba ̣c là ma túy loại Heroin có trọng lƣợng 0,3500 gam.
Ngày 27/11/2017,Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can, tạm giam bị can đối với Nguyễn Tuấn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với Hoàng Mạnh D, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thi ̣ xa Dĩ Añ đa ra Quyết đi ̣̃
nh xƣ̉ pha ̣t hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vớ i mƣ́ c pha ̣t 750.000 đồng theo quy đi ̣nh tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ và thông báo hành vi vi phạm về chinh quyền đi ̣a phƣơng nơi cƣ trú để quản lý, giáo dục.
́
Đối với ngƣời đàn ông chƣa rõ nhân thân, lai lịch bán ma túy cho Đ ở khu vực ngã tƣ Cầu Đ, Quận B, Thành phố H, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An đang tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở đề nghị xử lý sau.
Đối vớ i Nguyễn Thi ̣ Yến N không biết viê ̣c Đ tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng trọ, đồng thờ i không sƣ̉ du ̣ng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không đề câ ̣p xƣ̉ lý.
Đối với bì đã niêm phòng bên trong chứa
3,6653gam ma túy Methamphetamine và 0,3174gam ma túy Heroin mẫu vâ ̣t hoàn la ̣i sau sau giám đi ̣nh, đối với 03 kim tiêm, 01 bô ̣ du ̣ng cu ̣ sƣ̉ du ̣ng ma túy đá , 01 cây kéo inox không còn giá tri ̣ sƣ̉ du ̣ng đề nghi ̣ ti ̣ch thu tiêu hủy.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 538/MT-PC54 ngày 27/11/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng nêu trên.
Tại cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 24 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Đ mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn Đ không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vào khoảng 12 giờ ngày 18/11/2007, tại phòng trọ thuộc đi ̣a chi ̉ 373/10, khu phố T, phƣờ ng Đ, thị xã D , tỉnh B, Nguyễn Tuấn Đ đa cõ ́ hành vi cất giấu 3,9761gam Methamphetamine trong 04 gói nylon hàn kín và 01 gói nylon miê ̣ng kéo dinh ; 0,3500gam Heroin cất trong 01 gói giấy bạc v à đang
́ cùng Hoàng Mạnh D sƣ̉ du ̣ng ma túy đá thì bị lực lƣợng Công An thị xã Dĩ An tuần tra phát hiện. Theo quy định tại điểm c kho ản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Tuấn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Nguyễn Tuất Đ thực hiện là nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho bản thân, cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Ma túy là tiền đề của tội phạm. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho ngƣời dân hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống. Chỉ vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã thực hiện tội phạm là xem thƣờng pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý mức án phù hợp có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhằm giáo dục trực tiếp bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo đoạn tuyệt với ma túy.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động chƣa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.
Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng trong vu ̣ án: 04 gói nylon hàn kín và 01 gói nylon miê ̣ng kéo dinh đều chƣ́ a ma túy Methamphetamine ; 01 gói giấy bạc chứa ma
́ túy Heroin; 01 bô ̣ du ̣ng cu ̣ sƣ̉ du ̣ng ma túy đá ; 01 cây kéo inox cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với ngƣời đàn ông chƣa rõ nhân thân, lai lịch bán ma túy cho bị cáo Đ ở khu vực ngã tƣ cầu Đ, quâ ̣n B, Thành phố H, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An đang tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở đề nghị xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Hoàng Mạnh D, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thi ̣ xa Dĩ ̃ An đa ra Quyết đi ̣̃
nh xƣ̉ pha ̣t hành chinh về hành vi sƣ̉ du ̣ng trái phép chất ma
́
túy với mức phạt 750.000 đồng theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ và thông báo hành vi vi phạm về chinh quyền đi ̣a phƣơng nơi cƣ trú để quản lý, giáo dục.
́
Đối với Nguyễn Thị Yến N không biết viê ̣c Đ tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng tro ̣, đồng thờ i không sƣ̉ du ̣ng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thi ̣ xa Dĩ An không đề câ ̣̃
p xƣ̉ ly.́
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Đ 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2017.
2. Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣; điểm a và c khoản 2
̀ Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sƣ̣.
̀
Tịch thu tiêu hủy:
- 3,6653gam Methamphetamine, 0,3171gam Heroin mẫu v ật hoàn lại sau giám định;
- 03 kim tiêm, 01 bô ̣ du ̣ng cu ̣ sƣ̉ du ̣ng ma túy đá, 01 cây kéo inox do không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứ ng , tài sản ngày 24/01/2018 giữa Cơ quan Cảnh sá t điều tra công an thi ̣ xã Di An và Chi cục Thi hà nh á n Dân sự thi ̣
̃
xã Dĩ An).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong ha ̣ n 15 (Mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (03); - Chi cục THA thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (04); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - THA hình sự (04); - Bị cáo (01); - Lƣu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đa kỹ ́) Phan Thị Nguyệt Ánh |