- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249,điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14;
- Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:52/2018/HSST Ngày:05/02/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Đường
2. Ông Lê Đức Thọ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:Ông Nguyễn Nam Thái, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2018/HSST ngày17 tháng 01 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, tên gọi khác: không; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989; Nơi cư trú: Thôn Can Bi 4, xã P, huyện B, tỉnh V; Nghề nghiệp: không;Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc T (Đã chết) và bà Trần Thị B, sinh năm 1953;Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 57/2013/HSST ngày 12/7/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt Nguyễn Ngọc T 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 17/11/2017 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
( Có mặt tại phiên toà)
Người làm chứng:1/ Anh Nguyễn Sỹ B, sinh năm:1964, trú tại: Tổ 14, phường P, thành phố T, tỉnh T.
( Vắng mặt tại phiên tòa)
2/ Anh Nguyễn Tiến L, sinh năm: 1992, trú tại: Tổ 40, phường P, thành phố T, tỉnh T. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/11/2017, tổ công tác của Công an phường P, thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 14, phường P, thành phố T phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên tự khai tên là Nguyễn Ngọc T. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay phải của T 04 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu vàng bên trong đều chứa chất bột màu trắng (T khai là Hêrôin). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với T và niêm phong thu giữ vật chứng. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của T 01 thẻ điều trị Methadone và 01 bản photo giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Nguyễn Ngọc T.
Cùng ngày cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Ngọc T có trọng lượng 0,357 gam. Tại bản kết luận giám định số 35/KL-PC54 ngày 24/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Ngọc T ngày 17/11/2017 là chất ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng (Khối lượng)là: 0,357gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc T khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 17/11/2017, T đi bộ đến nhà của 01 người đàn ông tên Th (không rõ lai lịch) ở khu vực ngõ đối diện Công an tỉnh Thái Nguyên để mua Hêrôin sử dụng cho bản thân. Khi đến cổng nhà Th, T gọi Th và bảo muốn mua 300.000 đồng tiền ma túy, Th cầm tiền đi vào nhà, một lúc sau Th đi ra đưa cho T 04 gói Hêrôin được gói bằng giấy bạc màu vàng. Mua xong, T cầm số Hêrôin vừa mua được trong lòng bàn tay phải rồi đi ra khu vực hàng rào Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên thuộc tổ 14, phường P, thành phố T để tìm chỗ sử dụng Hêrôin nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Lời khai nhận của Nguyễn Ngọc T phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định.
Vật chứng của vụ án:
- 01 bì niêm phong ký hiệu A1; 01 thẻ điều trị Methadone mang tên Nguyễn Ngọc T. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
- 01 bản photo giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Ngọc T được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 44/KSĐT-MT ngày 11/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 hình Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Ngọc T: Từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1.
Trả lại cho bị cáo 01 thẻ điều trị Methadone mang tên Nguyễn Ngọc T.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội.Lời nói cuối cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án nhẹ nhất, để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/11/2017, tại khu vực tổ 14, phường P, thành phố T, Nguyễn Ngọc T đang có hành vi tàng trữ 0,357 gam Hêrôin để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường P, thành phố T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 thì hành vi nêu trên của Nguyễn Ngọc T được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
. Bản cáo trạng số 44/KSĐT-MT ngày 11/01/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c, Heroine,… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội.Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015.
Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, bản thân là người nghiện ma túy, biên bản xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1; Trả lại cho bị cáo 01 thẻ điều trị Methadone mang tên Nguyễn Ngọc T.
.Án phí và quyền kháng cáo:Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
.Các vấn đề khác: Trong vụ án này, Nguyễn Ngọc T khai đã mua ma túy của 01 người đàn ông tên Thành, do không xác định được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông trên nên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249,điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14;
- Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Xử phạt Nguyễn Ngọc T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 17/11/2017.
- Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Ngọc T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2/ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3/ Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc T: 01 thẻ điều trị Methadone mang tên Nguyễn Ngọc T
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 93 ngày 04/01/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Thái Nguyên; - Công an TP. Thái Nguyên; -TAND,VKSND tỉnh Thái Nguyên; - THADS TP. Thái Nguyên; - THA phạt tù; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBN xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc - Lưu:Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Trần Thị Minh Hải |