- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sơn L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!NAM!ĐỊNH! TỈNH!NAM!ĐỊNH! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2018/HSST Ngày: 14-3-2018 |
NHÂN!DANH
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!NAM!ĐỊNH!TỈNH!NAM!ĐỊNH!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Đoàn Hồng Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2018/TLST-HS ngày ngày 12 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Sơn L,!sinh năm 1980 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số M đường K, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: L (đã chết) và bà: N, sinh năm 1955; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 31-12-1999, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”, tổng hợp hình phạt là 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng (đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giữ ngày 29-11-2017, chuyển tạm giam ngày 08-12-2017; có mặt.
Người làm chứng: Ông H, ông T (Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa; vắng mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 28-11-2017, tại khu vực trước cửa số nhà B đường K, phường C, thành phố N, tổ công tác Công an phường Quang Trung, thành phố Nam Định phát hiện Nguyễn Sơn L đi xe đạp có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, L đã thả trên tay trái xuống đất 01 gói ni lông màu hồng, kiểm tra bên trong là lớp giấy bạc màu vàng trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, L khai là gói Heroine. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng, đồng thời tạm giữ của L chiếc xe đạp mi ni màu tím than đã cũ; đưa L cùng người làm chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản kết luận giám định số 943/GĐKTHS ngày 30-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong trưng cầu giám định là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có trọng lượng (khối lượng) là 0,193 (không phẩy một chín ba) gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Sơn L đã khai nguồn gốc gói ma túy trên như sau: Khoảng 18 giờ ngày 28-11-2017, L mượn xe đạp của anh N đi từ nhà đến khu vực đường P, phường T, thành phố N mua của một người thanh niên không rõ lai lịch 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng mục đích để sử dụng, trên đường về thì bị Công an phát hiện, thu giữ.
Bản cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 12 tháng 02 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Sơn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Sơn L khai: Ngày 28-11-2017, bị cáo đến khu vực đường P, phường T, thành phố N mua của một người thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng cầm trên tay trái mang về để sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt giữ và thu giữ, niêm phong gói ma túy, đồng thời thu giữ của bị cáo 01 xe đạp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai nhận đã mua 01 gói ma túy cất giấu trong tay mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt giữ, niêm phong vật chứng có sự chứng kiến của những người làm chứng. Bản kết luận giám định số 943/GĐKTHS ngày 30-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng thu giữ của bị cáo là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có khối lượng là 0,193 (không phẩy một chín ba) gam. Đã có đủ căn cứ xác định: Ngày 28-11-2017, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Heroine có khối lượng 0,193 gam với mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
Tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định hình phạt nhẹ hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã có 01 lần bị kết án, đã được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy theo Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chiếc xe đạp mi ni thu giữ của bị cáo, xét thấy không phải là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh N, sinh năm 1985, nơi cư trú: số M đường K, phường C, thành phố N là đúng với quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Sơn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sơn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn L 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 29-11-2017.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 943/GĐKTHS (chi tiết vật chứng ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-02-2018 giữa Công an thành phố Nam Định và Chi cục Thi hành án thành phố Nam Định).
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Sơn L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Sơn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
| Nơi nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. | THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! Nguyễn!Thị!Diện! |