vanban.org

Bản án 52/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 18/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

46 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 1;điểm b, khoản 3 điều 106 bộ luật tố tụng hình

sợ năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ngô văn thỏa phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện g…"
  • Tòa quyết gì? 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 1;điểm b, khoản 3 điều 106 bộ luật tố tụng hình
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 52/2018/HSST

Ngày: 18/06/2018

HUYỆN THÁI THỤY Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng. Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phan Văn Tiến - Bà Phạm Hồng Thiêm Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khuông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: ¤ng Nguyễn Văn Ngọc - Kiểm sát viên. Trong ngày 18 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2018/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2018/HSST-QĐ ngày 09 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2018/QĐST- HS ngày 24 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Ngô Văn Th; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 25/9/1988 tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Lễ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lái xe tải; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Ngô Văn D và Phạm Thị N Nhân thân: còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. * Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn Th: ông Phạm Khắc D sinh năm 1949 –Luật sư văn phòng Luật sư Á ( có mặt) Địa chỉ: Số 15 A Hồng, thành phố H, tỉnh Hải Dương * Người bị hại: -Phạm Xuân H, sinh năm 1987, đều trú tại thôn Lễ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ( đã chết) - Ông Đỗ Quang H sinh năm 1959 ( vắng mặt) Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình *Đại diện hợp pháp của người bị hại: - Ông Phạm Xuân B sinh năm 1950- bố đẻ nạn nhân ( có mặt) - Bà Tạ Thị T sinh năm 1954 - mẹ đẻ nạn nhân ( vắng mặt)

- Chị Nguyễn Thị H sinh năm 1989 -vợ nạn nhân ( vắng mặt) Đều có địa chỉ; Lê, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình Bà T, chị H ủy quyền cho ông B tham gia tố tụng tại phiên tòa. * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: - Cháu Phạm Thị Lan A sinh năm 2010 - con đẻ nạn nhân(vắng mặt) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu A là Ông Phạm Xuân B sinh năm 1950; địa chỉ; Lê, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình - Người làm chứng: 1. Anh Phạm Tiến N sinh năm 1988; (vắng mặt) 2. Anh Trần Văn P sinh năm 1993; (vắng mặt) 3 Anh Tạ Ngọc L sinh năm 1991; (vắng mặt) 4. Anh Tạ Ngọc Hải D sinh năm 1994, (vắng mặt) Địa chỉ: thôn Lễ , xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình 5. Anh Nguyễn Thế Ú sinh năm 1985 (vắng mặt) Địa chỉ; Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình 6. Chị Nguyễn Thị H sinh năm 1974 (vắng mặt) 7. Ông Đỗ Quang H sinh năm 1970 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình 8. Anh Phạm Bá T sinh năm 1993; (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn Lễ , xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình 9. Anh Tạ Giang A sinh năm 1994 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn Lễ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ ngày 14/11/2015, nhóm thanh niên gồm: Phạm Tiến N; Trần Văn P; Tạ Ngọc D, Ngô Văn Th; Tạ Ngọc L;Tạ Ngọc Hải D, Nguyễn Văn Đ, Phạm Bá T; Tạ Giang A, Phạm Xuân H, điều khiển 05 xe môtô đi từ quán Hoàng Gia ở xã Thái Xuyên theo trục đường liên xã Thái Xuyên - Thái An - Thái Nguyên sang thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy chơi. Trong đó, Ngô Văn Th điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 17B1 – 667.64, chở sau là anh H. Khi đi đến đoạn đường cong cạnh đình Ba Nóc, thuộc địa phận thôn Bích Đoài, xã Thái Nguyên đi với vận tốc khoảng 40 km/h, do không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ đến mức an toàn nên xe môtô do Th điều khiển đã đâm vào tường và trụ cổng phía Tây nhà ông Đỗ Quang H trú tại thôn B, xã T ở bên trái đường theo chiều đi, làm anh H và Th ngã. Cả hai đều bị thương, được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh Viện Đa khoa Thái Ninh, huyện Thái Thụy. Đến 23 giờ cùng ngày anh H chết tại Bệnh viện. Th được chuyển lên Bệnh viện Việt Đức-Hà Nội cấp cứu và điều trị, mổ sọ não, sau đó về điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình đến ngày 07/3/2016 thì xuất viện về nhà điều trị ngoại trú. Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 212/PY/2015/TT ngày 20/11/2015 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Thái Bình kết luận: Nạn nhân Phạm Xuân H bị “Đa chấn thương vùng đầu, mặt và toàn thân do tai nạn giao thông, làm vỡ xương sọ vùng trán bên trái. Nạn nhân chết do chấn thương sọ não”.

Ngày 16/9/2016, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy ra bản kết luận điều tra số 104/KLĐT - ĐTTH và chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đề nghị truy tố bị can Ngô Văn Th về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 11/10/2016, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy ra Quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung số 01/QĐ- VKS yêu cầu điều tra làm rõ một số tình tiết của vụ án và tình trạng tâm thần của bị can. Ngày 29/11/2016 Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định số 11/QĐ gửi Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định tình trạng tâm thần của bị can Ngô Văn Th. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 07/KLGĐ ngày 05/01/2016 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: “Trước, trong khi xảy ra tai nạn giao thông Ngô Văn Th không có bệnh tâm thần. Đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện tại Ngô Văn Th bị ảo giác thực tổn. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F06.0. Mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Ngày 13/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy ra Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị can Ngô Văn Th tại Viện pháp y tâm thần Trung ương. Ngày 19/12/2017, Viện pháp y tâm thần Trung ương ra Kết luận giám định sức khỏe tâm thần sau điều trị BBCB số 71/GĐSKTT- SBBCB Kết luận: “Hiện tại tình trạng bệnh tâm thần của Ngô Văn Th ở giai đoạn ổn định. Đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bản cáo trạng số 31/KSĐT ngày 26 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố Ngô Văn Th về tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Th về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điều 45; điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Th từ 01 năm đến 01 năm 3 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 2 năm đến 3 năm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự bị cáo và gia đình đã thỏa thuận với ông B đại diện hợp pháp người bị hại 1 lần là 40 triệu đồng(đã bồi thường xong). Ông B đã không yêu cầu bồi thường thêm khoản chi phí nào khác nên không đặt ra giải quyết. Về vật chứng vụ án đề nghị trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm soát 17B1- 667.64, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo đồng ý với quan điểm truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và không có ý kiến, tranh luận gì. Tại phiên tòa ông D bào chữa cho bị cáo: về trình tự thủ tục của cơ quan tố tụng, về tội danh và mức hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị là đúng người đúng

tội, bị cáo và gia đình đã bồi thường một lần cho gia đình bị hại, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Ông B xin cho bị cáo được hưởng án treo và không yêu cầu bồi thường bất cứ khoản gì về trách nhiệm dân sự bởi vì giữa con trai ông và anh Thlà bạn bè, tai nạn này là điều không ai mong muốn. Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo để nhận được sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Sau khi gây tai nạn bị cáo bị chấn thương sọ não đã được điều trị tại bệnh viện, bản kết luận giám định pháp y số 07 ngày 05/01/2017 của Viện pháp y tâm thần Trung ương để xác định tại thời điểm bị cáo:Trước, trong khi xảy ra tai nạn giao thông Ngô Văn Thkhông có bệnh tâm thần. Đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện tại Ngô Văn Th bị ảo giác thực tổn. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F06.0. Mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Ngày 13/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy ra Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị cáo Ngô Văn Th tại Viện pháp y tâm thần Trung ương. Ngày 19/12/2017, Viện pháp y tâm thần Trung ương ra Kết luận giám định sức khỏe tâm thần sau điều trị BBCB số 71/GĐSKTT- SBBCB Kết luận: “Hiện tại tình trạng bệnh tâm thần của Ngô Văn Th ở giai đoạn ổn định. Đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”. [2] Ngày 18/5/2018 Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy thông báo yêu cầu bổ sung tài liệu chứng cứ số 01/2018/ TB- TA để yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình xác định bản kết luận giám định số 07 ngày 05/01/2016 của Viện pháp y tâm thần trung ương được ban hành vào thời gian nào so với thời gian lập biên bản khám hội chẩn đối với Ngô Văn Th vào ngày 05/01/2017. Công văn đính chính số 473/VPYTTU Ngày 31/5/2018 của Viện pháp y tâm thần Trung ương đính chính biên bản giám định pháp y tâm thần số 07/BBGĐTC và Kết luận giám định pháp y tâm thần số 07/KLGD của Viện pháp y thân thần được thực hiện vào ngày 05/01/2017. Việc đề ngày 05/01/2016 là do lỗi đánh máy. [3] Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. [4] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào giấy ủy quyền ngày 12/01/2016 của bà T và chị H đều ủy quyền cho ông B là bố đẻ nạn nhân nhận ủy quyền với tư cách người đại diện hợp pháp người bị hại tham gia phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. [6] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bằng lái xe, nhưng cả bị cáo và anh H đều có uống chút bia, khi bị cáo lái xe chở anh H ngồi phía sau sang thị trấn Diêm Điền chơi, khi đến đoạn đường đình Ba nóc thuộc địa phận xã Thái Nguyên do đường cua cong, trời tối, anh H ngồi phía sau kéo tay bị cáo đòi lái xe nên bị cáo đã không làm chủ được tốc độ, tốc độ bị cáo đi khoảng từ 40km/ đến 45km/h nên chệch choạng tay lái và do không giảm tốc độ nên đã đâm vào bờ tường dậu nhà ông H nằm bên trái đường theo chiều đi. Làm cả hai cùng ngã ra đường, bị cáo ngay sau đó cũng bất tỉnh, sau này bị cáo biết anh H bị chết. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với: [7] Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường do Công an huyện Thái Thụy lập hồi 23 giờ 20 phút ngày 14/11/2015. Hiện trạng của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Đường hai chiều cong về phía bên phải, ở mặt đường xe chạy được rải đá nhựa nhẵn phẳng rộng 3,5 mét, lề đường mỗi bên rộng 0,5 mét. Đường chạy theo hướng Tây - Đông, ngay khu vực đường cong tiếp giáp với lề đường phía Nam là đình Ba nóc thuộc địa phận thôn Bích Đoài, xã Thái Nguyên, góc phía Tây Bắc của đình sát ngay mép phần đường xe chạy phía nam. Tiếp giáp với lề đường phía Bắc là cống thoát nước có miệng cống rộng 0,3 mét sâu 0,3 mét. Dấu vết để lại tại hiện trường:(1)Vết trượt dính màu đen dài 5,5 mét, rộng 0,04 mét; (2) vết vỡ gạch mới dài 0,42 mét, rộng 0,08 mét, sâu 0,06 mét; (3)vết vỡ xi măng có dính tổ chức mô cơ, da, tóc, số đo: dài 0,1m, rộng 0,05m, sâu 0,03m; (4) vết vỡ xi măng có dính tạp chất màu đỏ, dài 0,4m, rộng 0,05m, sâu 0,03m;(5) vết cày dài 0,07m,rộng 0,01m;(6) vết cày dài 0,17m, rộng 0,01m; (7) vết trượt lốp dài 0,4m, rộng 0,05m, sâu 0,03m;(8) vết cày dài 0,030m, rộng 0,02m, sâu 0,02m;(9) vết cày dài 0,2m, rộng 0,02m, rộng 0,01m, sâu 0,01m; (10) vết cày dài 2,1m, rộng 0,01m;(11) vết dầu loang số đo (0,34x 0,2)m.Lấy cột điện số 05/14 trên lề đường phía Bắc làm điểm mốc, lấy mép đường xe chạy phía Bắc làm chuẩn. Tại vị trí cách điểm mốc 5,16m về phía Tây trên lề đường phía Bắc là vị trí điểm cuối vết trượt mới dính tạp chất màu đen được đánh số thứ tự là (1). Vết trượt (1) dài 5,5m, rộng 0,04m hướng xiên chếch Tây Nam - Đông Bắc, điểm đầu và điểm cuối vết trượt (1) lần lượt cách mép chuẩn là 1,05m và 0,54m. Cách điểm cuối vết trượt (1)1,65m về phía Đông trên thành miệng cống thoát nước phía Bắc ở lề đường phía Bắc là vị trí tâm vết vỡ gạch mới được đánh số thứ tự là (2), vết vỡ (2) nằm trên cạnh ngoài phía Nam của thành phía Bắc cống thoát nước có số đo dài 0,42m, rộng 0,08m, sâu 0,06m, tâm đám vỡ (2) cách mép chuẩn là 0,86m. Cách tâm đám vỡ (2) 0,46m về phía Đông là vị trí mép cạnh ngoài phía Nam của trụ cổng phía Tây của nhà ông Đỗ Quang Hoa, thôn Bích Đoài, xã Thái Nguyên, huyện Thái Thụy, trụ cổng cách mép chuẩn 1,2m, tại vị trí cách chân trụ cổng phía Tây 1,3m, ngay trên mép ngoài phía Nam của trụ cổng phía Tây là vị trí tâm đám vỡ vữa xi măng có đính tổ chức mô cơ, da, tóc được đánh số thứ tự là (3). Vết vỡ (3) có số đo dài 0,1m, rộng 0,05m, sâu 0,03m.Ngay trên mép ngoài phía Nam của trụ cổng phía Tây, cách chân trụ cổng 0,85m là vị trí tâm đám vỡ vữa ximăng mới có dính bột tạp chất màu đỏ được đánh số thứ tự là (4). Vết vỡ (4) có số đo dài 0,4m, rộng 0,05m, sâu 0,03m. Ngay trên mép ngoài phía Nam của trụ

cổng phía Tây tại vị trí cách chân trụ cổng 0,32m là điểm đầu vết cày mới được đánh số thứ tự (5), vết cày (5) dài 0,07m chạy hướng Tây – Đông trên mặt phía Nam trụ cổng phía Tây và song song với mặt đường xe chạy. Tại vị trí cách mép ngoài phía Nam của trụ cổng phía Tây 0,22m về phía Tây trên mặt ngoài phía Nam tường bao nhà ông Đỗ Quang Hoa để lại điểm cuối vết cày mới được đánh số thứ tự (6), vết cày (6) dài 0,17m, rộng 0,01m,chạy hướng Tây – Đông, chiều chính từ trên xuống dưới, có điểm đầu và điểm cuối vết cày (6) cách chân tường bao lần lượt là 0,76m và 0,7m. Ngay điểm mốc trên chiều đường xe chạy phía Bắc là vị trí điểm đầu vết trượt lốp (7), dài 0,9m,rộng 0,05m hướng xiên chếch Tây Bắc- Đông Nam, điểm đầu và điểm cuối vết trượt lốp (7) lần lượt cách mép chuẩn là 0,48m và 0,5m. Cách điểm đầu vết trượt lốp (7) 0,5m về phía Tây trên chiều đường xe chạy phía Bắc là vị trí điểm vết cày mới được đánh số thứ tự là (8), vết cày (8) dài 0,32m, rộng 0,02m, sâu 0,01m, hướng xiên chếch Tây Nam - Đông Bắc, điểm đầu và điểm cuối vết cày (8) lần lượt cách mép chuẩn là 0,89m và 0,84m, cách điểm cuối vết cày (8) 1,62m về phía Đông trên chiều đường xe chạy phía Bắc là vị trí điểm đầu vết cày mới được đánh số thứ tự là (9), vết cày (9) dài 0,2m, rộng 0,01m, sâu 0,01m hướng xiên chếch Tây Nam – Đông Bắc, điểm đầu và cuối vết cày (9) lần lượt cách mép chuẩn là 0,78m và 0,75m. Cách điểm cuối vết cày (9) 1,62m về phía Đông trên chiều đường xe chạy phía Bắc là vị trí điểm đầu vết cày mới đánh số thứ tự là (10), vết cày (10) lần lượt cách mép chuẩn là 0,77m và 0,8m. Tại vị trí ngay điểm cuối vết cày (10) là tâm đám dầu loang mới được đánh số thứ tự là (11), vết dầu loang (11) có số đo( 0,34 x 0,2)m, tâm vết dầu loang cách mép chuẩn là 1,14m.;Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do Công an huyện Thái Thụy lập ngày 18/11/2015; Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 15/11/2015; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 212/PY/2015/TT ngày 20/11/2015 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Thái Bình [8] Giấy ủy quyền; Biên bản ghi lời khai của ông Phạm Xuân B. [9] Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng: anh Tạ Giang A xác định Th chở anh H ngồi phía sau lái xe tốc độ rất cao, xe của A không đuổi kịp, đến đoạn đình Ba nóc thì đã thấy Th và H đều nằm trên đường; Lời khai của các anh Tạ Ngọc L anh Phạm Bá T, anh Phạm Tiến N, Trần Văn P, Tạ Ngọc Hải D, anh Nguyễn Thế Ú, ông Đỗ Quang H, bà Nguyễn Thị H.Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. [10] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật vì vậy; [11] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ gây ra tai nạn làm anh H chết. [12]Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 ,sửa đổi, bổ sung năm 2009. * Điều 202 Bộ luật hình sự. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ : “1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, Biªn b¶n kh¸m nghiÖm hiÖn trưêng vô tai n¹n giao th«ng vµ c¸c tµi liệu cã trong hå s¬ vô ¸n thì thấy bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định pháp luật, khi tham gia giao thông đã phóng nhanh vào đoạn đường cong trời tối bị cáo đã không giảm tốc độ nên đã đâm vào bờ tường nhà ông H. Lời khai của những người làm chứng xác định bị cáo và người bị hại đều đã ngồi uống bia, anh H ngồi sau kéo tay bị cáo để đòi lái xe, nên xác định người bị hại cũng có một phần lỗi. Song cũng xét sau khi bị cáo gây tai nạn bản thân bị cáo bị chấn thương sọ não, phải điều trị tại nhiều bệnh viện, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã khai thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cùng gia đình đã bồi thường khắc phục 1 lần các khoản chi phí theo thỏa thuận cho gia đình nạn nhân là 40 triệu đồng. Tại phiên tòa ông B tha thiết xin cho bị cáo được hưởng áo treo để bị cáo trở thành công dân tốt. Do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1 khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ rang không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội cũng đủ giáo dục và phòng ngừa tội phạm nên áp dụng điều 60 của Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [14]Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã thỏa thuận bồi thường một lần bao gồm các khoản mai táng phí, tổn thất về tinh thần và các chi phí hợp lý khác cho người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông B số tiền là 40 triệu đồng. Ông B đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản nào khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết. [15] Quá trình tố tụng ông H không yêu cầu bị cáo bồi thường về việc đâm xe mô tô vào bờ tường dậu nhà ông nên không đặt ra giải quyết. [16] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Trả bị cáo 01 xe môtô biển kiểm soát 17B1 – 667.64 do có căn cứ xác định bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án phí. [17] Về án phí: Bị cáo Th phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm [18] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ông B, bà T, chị H, ông H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 202; điều 60, điều 45; điểm b, p khoản 1; khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 1;điểm b, khoản 3 điều 106 bộ luật tố tụng hình sợ năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1.Tuyên bố:Bị cáo Ngô Văn Th phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiểm phương tiện giao thông đường bộ”. 2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Th 01(một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/6/2018.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình quản lý giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Th thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của luật thi hành án hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. 3.Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã thỏa thuận bồi thường một lần bao gồm các khoản mai táng phí, tổn thất về tinh thần và các chi phí hợp lý khác cho đại diện hợp pháp của người bị hại là ông B số tiền là 40 triệu đồng. Ông B đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản nào khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết. Ông H không yêu cầu bị cáo bồi thường về việc đâm xe mô tô vào bờ tường dậu nhà ông nên không đặt ra giải quyết. 4. Về vật chứng của vụ án: Trả lại bị cáo 01 xe môtô nhãn hiệu HONDA AIR Blade biển kiểm soát 17B1 – 667.64 nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.( có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 3/4/2018 giữa cơ quan thi hành án và công an huyện thái thụy) 5. Về án phí: Buộc bị cáo Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ông B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/6/2018. Ông H, bà T, chị H, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Cỡ chữ