vanban.org

Bản án 52/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 02/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 08/3/2018. Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 240/GĐMT; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2018/HS-ST
Ngày 02-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quốc Tuấn;

2. Ông Trần Hữu Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hoàng – Kiểm sát viên.

Ngày 02 th¸ng 8 n¨m 2018, t¹i Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 49/2018/HSST ngày 22 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 30/8/1981 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: Tổ 2, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Trịnh Thị L, có vợ Trần Thị T, có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 14/01/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2012; bị bắt ngày 08/3/2018 (Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều), có mặt.

Người chứng kiến: Ông Bùi Trọng T, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 08/3/2018, Tổ công tác Đội cảnh sát hình sự Công an thị xã Đông Triều tiến hành kiểm tra hành chính tại quán chơi Game của anh Nguyễn Chí T tại thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình kiểm tra phát hiện Đoàn Văn N, Nguyễn Xuân T, Hoàng Văn C và Trịnh Bá T cùng ngồi chơi Game bắn cá, tiến hành kiểm tra thu giữ trên người Nguyễn Chí T 4.100.000đ và 04 máy chơi Game; thu giữ của Trịnh Bá T 300.000đ; thu giữ của Hoàng Văn C 2.200.000đ; thu giữ tại túi áo khoác phía trong bên trái đang mặc của Nguyễn Xuân T 01 túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng cùng số tiền 200.000đ và 01 xe ô tô biển kiểm soát 14P-4707.

Quá trình điều tra Nguyên Xuân T khai do có nhu cầu sử dụng ma túy dạng đá, nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/3/2018, T đi đến khu vực gần sân bóng mỏ than Mạo Khê thuộc khu Đoàn Kết, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, mục đích mua ma túy về sử dụng. Tại đây T gặp và thỏa thuận mua của một người phụ nữ (không ró lý lịch, địa chỉ) 01 gói ma túy dạng đá với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma túy vào túi áo khoác phía trong bên trái đang mặc rồi đi đến quán Game của anh Nguyễn Chí T tại thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi T đang ngồi chơi thì bị lực lượng Công an thị xã Đông Triều kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ số ma túy trong người của T như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số: 240/GĐMT ngày 10/3/2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Xuân T gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; khối lượng là: 0,32gam (Không phẩy ba hai gam).

(Methamphetamine nằm trong danh much IIC, STT: 323; Nghị định số: 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Bản Cáo trạng số: 54/CT-VKS-ĐT ngày 21/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy Bộ luật Hình sự quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố; đề nghị xét xử bị cáo Nguyễn Xuân T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 08/3/2018; đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 240/GĐMT, đề nghị trả lại bị cáo 200.000đ, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, nên không tranh luận, cũng không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo Nguyễn Xuân T khai nhận vào khoảng 15 giờ ngày 08/3/2018, tại thôn Y, xã Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (Một) túi nilon chứa chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng là: 0,32gam (Không phẩy ba hai gam) mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ông Bùi Trọng T là người chứng kiến sự việc Công an thị xã Đông Triều lập biên bản kiểm tra hành chính hồi 15 giờ 10 phút ngày 08/3/2018 tại thôn Yên Trung, xã Yên Thọ, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, cùng biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 17 giờ 15 phút cùng ngày. Ngoài ra còn phù hợp với Kết luận giám định số: 240/GĐMT ngày 10/3/2018, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Xuân T gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; khối lượng là: 0,32gam (Không phẩy ba hai gam).

Với hành vi tàng trữ trái phép 01 (Một) túi nilon chứa chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng là: 0,32gam (Không phẩy ba hai gam), mục đích để sử dụng. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng số: 54/CT-VKS-ĐT ngày 21/6/2018, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố đối với bị cáo và các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và gây mất an ninh trật tự tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay, tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, gây nguy hại đến sức khỏe, đời sống của con người, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cho người sử dụng và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử phạt với một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét nhân thân của bị cáo cho thấy: Bị cáo là người trưởng thành có nhận thức xã hội và nhận thức pháp luật, nhân thân bị cáo, ngày 14/01/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2012, nhưng không tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến nghiện chất ma túy mà đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Tại phiên tòa và quá trình điều tra, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ của bị cáo là ông Nguyễn Văn K có thành tích trong công tác, được tặng thưởng Huy chương. cho nên, áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mặc dù đã được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhưng phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng, các vấn đề khác và án phí:

Số ma túy, Cơ quan giám định hoàn lại trong phong bì niêm phong số 240/GĐMT cần tịch thu tiêu hủy.

Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 200.000đ, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại bị cáo.

Đối với hành vi chơi Game bắn cá được thua bằng tiền của Hoàng Văn C, Trịnh Bá T, tại quán Game của Nguyễn Chí T. Quá trình điều tra chưa đủ căn cứ xử lý C, Thịnh và T về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc theo quy định tại Điều 321 và 322 của Bộ luật hình sự, nên Công an thị xã Đông Triều đã quyết định xử phạt hành chính và xử lý các vật chứng liên quan.

Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 14P-4707, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của anh Lê Văn Bn, trú tại thôn 6, xà H, thị xã Đ, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 47A/QĐ ngày 14/3/2018, trả lại cho anh Lê Văn B, anh B đã nhận lại tài sản, không có ý kiến gì, nên không đề cập giải quyết.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Nguyễn Xuân T, quá trình điều tra không xác định được lý lịch, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xử lý.

Bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 08/3/2018.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 240/GĐMT;

Trả lại Nguyễn Xuân T 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 67 ngày 22/6/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều.

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ