vanban.org

Bản án 52/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 25/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2018. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2018/HS - ST
Ngày: 25 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Xuân Trường.

Ông Trần Xuân Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao T, Tỉnh N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao T tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao T, Tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/ QĐXXST- HS ngày 13 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ - Sinh năm 1987 tại xóm 02 xã Giao H, huyện Giao T, Tỉnh N; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm 02 xã Giao Hà, huyện Giao T, Tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình Đ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Trọng L - Sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1967 đều làm ruộng trú tại xóm 02 xã Giao H, huyện Giao T, Tỉnh N; vợ là Vũ Thị T - Sinh năm 1994 làm ruộng và trú tại xóm 02 xã Giao Hà, huyện Giao T, Tỉnh N. Có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam tính từ ngày bị bắt tạm giữ 19/4/2018 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an Tỉnh N.

- Người làm chứng:

1. Anh Phạm Văn Đ - Sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm 14, xã H,

huyện Giao T, Tỉnh N.

2. Ông Phùng Văn B - Sinh năm 1951; địa chỉ: Xóm 13, xã H,

huyện Giao T, Tỉnh N.

3. Anh Bùi Văn V - Sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm 10, xã G, huyện

Giao T, Tỉnh N.

Tại phiên tòa: Bị cáo có mặt; người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 9 giờ 15 phút, ngày 19/4/2018, Tổ công tác phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an Tỉnh N làm nhiệm vụ tại khu vực cầu xuất khẩu thuộc xóm 14 xã Hoành Sơn, huyện Giao T, Tỉnh N phát hiện Nguyễn Văn Đ đang điểu khiển chiếc xe máy Wave α màu đỏ đen BKS 18P8

- 8671 có biểu hiện cấu giấu ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu Nguyễn Văn Đ dừng lại để kiểm tra. Tổ công tác thu giữ trong túi quần bên phải đang mặc của Đ01 gói nhỏ được gói bằng giấy báo kích thước 1cm x 1cm bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Đkhai đó là Heroine của Đcất giấu để sử dụng cho bản thân được niêm phong ký hiệu M. Ngoài ra tổ công tác còn thua giữ của Nguyễn Văn Đ 01 xem máy kiểu dáng Weva α màu đỏ đen BKS 18P8 - 8671. Tổ tuần tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao T để điều tra giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 19/4/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Giao T đã đưa 01 gói chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Đđi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 350/GĐKTHS ngày 20/04/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi đi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,143 gam.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Giao T, cũng như tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số: 48/CT - VKS ngày 14/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao T truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng là: 0,143 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 20 đến 24 tháng tù. Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, con còn nhỏ nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 9 giờ 15 phút, ngày 19/4/2018, tổ tuần tra phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an Tỉnh N làm nhiệm vụ tại khu vực cầu xuất khẩu thuộc xóm 14 xã Hoành Sơn, huyện Giao T, Tỉnh N, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine có khối lượng: 0,143 gam, bị cáo khai đi mua về để sử dụng cho bản thân. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. Bị cáo biết việc làm của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân dẫn tới phạm tội. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[3] Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.

Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của Nguyễn Văn Đ cất giấu để sử dụng cho bản thân. Đkhai mua vào khoảng 9 giờ ngày 19/4/2018 với giá 100.000 đồng mua qua lỗ khe cửa của một nhà ở gần dốc Hoành nha, xã Giao Tiến huyện Giao T Đkhông biết nhà đó của ai và không nhớ địa chỉ, không biết người bán Heroine cho mình. Quá trình điều tra không xác định được người đã bán ma túy cho Đnên Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách ra để điều tra xử lý sau là phù hợp.

Đối với chiếc xe máy kiểu dáng kiểu dáng Weva α màu đỏ đen BKS 18P8 - 8671 thu giữ của Đ. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên Đ mượn của anh Bùi Văn V; Khi anh Việt cho Đ mượn xe Việt không biết Đ mượn xe để đi mua ma túy nên cơ quan điều tra Công an huyện Giao T đã trả lại chiếc xe trên cho anh Việt là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2018.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao T).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ