vanban.org

Bản án 52/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Vũ Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng điểm m, khoản 2, 5 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Vũ Đ 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/4/2017. Phạt bổ sung bị cáo: 5.000.000đồng để sung quỹ nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Vũ Đ phạm tôi mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Vũ Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2017/HSST
Ngày 19/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tiến.

2. Bà Trần Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Huy Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại Nhà văn hóa khu phố Tiều Hoàng, thị trấn H, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2017/HSST-QĐ ngày 08/9/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Vũ Đ, sinh năm 1973.

Nguyên quán: Yên Phong, Bắc Ninh. Nơi ĐKHKTT: Số nhà x, gác x, đường LH, phường HV, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Số nhà x, ngõ x, phố ĐN, phường ĐT, TP Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Trình độ văn hóa: Lớp 12/12.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Con ông Lê Đức Kh sinh năm 1942 (đã chết) và bà Vũ Thị H, sinh năm 1949;

Vợ: Quách Thị Xuân T, sinh năm: 1978.

Con: Bị cáo có 03 con, con lớn 18 tuổi; con nhỏ nhất 06 tuổi.

Nhân thân: Năm 1991 tham gia nghĩa vụ quân sự đến 1993 xuất ngũ về địa phương.

Quyết định số 2359 ngày 25/10/2010 của C an thành phố Thái Bình đưa bị cáo vào Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội thành phố Thái Bình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2017 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ C an huyện Tiền Hải.

(Bị cáo dược trích xuất có mặt tại phiên toà).

* Người làm chứng:

- Ông Vũ Ngọc Q, sinh năm 1948.

- Chị Hoàng Thị Khánh H, sinh năm 1973. Đều trú tại: Khu phố TH, thị trấn H, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. (Ông Q, chị

H đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h00’ ngày 27/4/2017, Lê Vũ Đ nhận được điện thoại của một người đàn ông tên là TA ở thị trấn H hỏi mua 20.000.000đồng ma túy đá, Đ đồng ý bán và hẹn TA đến chiều sẽ mang ma túy xuống thị trấn H để giao dịch. Khoảng 16h00’ cùng ngày, Đ gọi điện cho TT hỏi mua 20.000.000 đồng tiền ma túy đá, TT đồng ý và hẹn đến Nhà nghỉ ĐB, phường TL, thành phố Thái Bình để giao dịch mua bán. Khoảng 18h00’ cùng ngày Đ gọi điện thoại hỏi Hà Duy C vay số tiền 20.000.000 đồng, C điều khiển xe ô tô BKS 17A- xxx đến nhà Đ đưa cho vay 19.000.000 đồng, Đ nhận tiền và nhờ C chở Đ xuống thị trấn H có việc. Khi đi đến đoạn đường gần khu vực nhà nghỉ ĐB, phường TL, thành phố Thái Bình, Đ bảo C dừng xe để Đ đi có việc, C dừng xe và bảo Đ đưa tiền để đổ xăng, Đ đưa cho C 190.000 đồng rồi đi bộ sang đường đối diện nhà nghỉ ĐB ngồi chờ TT ở quán nước. Khi gặp TT, Đ đưa cho TT 15.700.000 đồng (gồm 5.000.000 đồng trả nợ; 10.700.000 đồng tiền mua ma túy), TT nhận tiền và đưa lại cho Đ 05 gói ma túy đá, Đ cất giấu vào túi quần bên phải rồi đi bộ sang đường, cùng lúc thì C cũng đi đổ xăng xe về. Đ lên xe và bảo C chở xuống thị trấn H, khi đến quán café Tín ở số x phố TH thị trấn H, C dừng xe ở bên ngoài, Đ vào trong quán cafe uống nước. Khi Đ vừa vào quán, lực lượng phòng chống ma túy C an huyện Tiền Hải nghi ngờ Đ có biểu hiện liên quan đến hoạt động tội phạm về ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Qua đấu tranh và giải thích Đ tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước 05 túi nilon màu trắng bên trong đều có chất tinh thể màu trắng giao nộp cho lực lượng C an.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Hồi 19h40’ ngày 27/4/2017, tại quán Café Tín ở số x phố TH, thị trấn H, huyện Tiền Hải bị cáo mang 05 gói Methamphetamin có trọng lượng 32,6810gam xuống thị trấn H mục đích để bán, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt lực lượng phòng chống ma túy C an huyện Tiền Hải bắt quả tang.

Lời khai của những người làm chứng là: Ông Q và chị H; Biên bản bắt người phạm tội quả tang và Biên bản niêm phong vật chứng do Cơ quan Cảnh sát điều tra C an huyện Tiền Hải lập đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

Bản cáo trạng số 55/KSĐT ngày 25/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Lê Vũ Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm m, khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm m, khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 45; Điều 33 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự: Phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 07 triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số Methamphetamin còn lại sau giám định, 01 bình thủy tinh sử dụng ma túy đá; 01 máy hàn (dính) túi ninon .

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại anh Hà Duy C 01 xe ô tô BKS 17A-xxx.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại OPPO.

- Trả lại bị cáo 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 ví giả da màu đen đã cũ, 01 chiếc điện thoại Vivo, 01 đồng hồ mặt tròn và số tiền 4.800.000đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên là các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo không khiếu nại hay có ý kiến gì.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19h40’ ngày 27/4/2017, tại quán Café Tín ở số x phố TH, thị trấn H, huyện Tiền Hải lực lượng phòng chống ma túy C an huyện Tiền Hải bắt quả tang Lê Vũ Đ mang 05 gói Methamphetamin có trọng lượng 32,6810gam xuống thị trấn H mục đích để bán, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm m, khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo đã biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2010 bị cáo bị C an thành phố Thái Bình đưa vào Trung tâm chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội thành phố Thái Bình. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; Bị cáo có thời gian tham gia và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma túy để kiếm lời, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo: 5.000.000đồng để sung quỹ nhà nước.

Về vật chứng của vụ án:

- 31,2363gam ma túy, loại Methamphetamin thu của bị cáo được hoàn lại sau giám định và bao gói trong bao niêm phong số 144/KLGĐ –PC54 ngày 28/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự C an tỉnh Thái Bình là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành; 01 bình thủy tinh sử dụng ma túy đá; 01 máy hàn (dính) túi ninon cần tịch thu, tiêu hủy.

- 01 chiếc xe ô tô BKS 17A-xxx, anh Thắng không biết C thuê xe chở bị cáo xuống thị trấn H để bán ma túy, anh Thắng đã xuất trình giấy tờ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh Thắng là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

- 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Vũ Đ; 01 ví giả da màu đen đã cũ; chiếc điện thoại VIVO đã qua sử dụng; 01 đồng hồ mặt tròn, trên mặt đồng hồ có chữ ARMANI đã qua sử dụng và số tiền 4.800.000đồng thu của bị cáo, các tài sản này không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

- Chiếc điện thoại OPPO bị cáo đã dùng liên lạc để mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với anh Hà Duy C là người cho bị cáo vay 19.000.000 đồng để đi mua ma túy và điều khiển xe ô tô chở Đ đi xuống thị trấn H để bán ma túy. Quá trình điều tra đã xác định anh C không biết việc Đ vay tiền mục đích đi mua ma túy về để bán và cũng không biết việc Đ nhờ chở xuống thị trấn H để bán ma túy, Đ không nói cho anh C biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, C an huyện Tiền Hải không xử lý đối với anh C là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tên là Tuất Tít và người đàn ông hỏi mua ma túy của bị cáo tên là TA chưa xác định được tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Vũ Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng điểm m, khoản 2, 5 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Vũ Đ 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/4/2017.

Phạt bổ sung bị cáo: 5.000.000đồng để sung quỹ nhà nước.

3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe chiếc xe ô tô BKS 17A-xxx cho anh Nguyễn Chiến Thắng.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại OPPO đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy 31,2363gam ma túy, loại Methamphetamin thu của bị cáo được hoàn lại sau giám định và bao gói trong bao niêm phong số 144/KLGĐ –PC54 ngày 28/4/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự C an tỉnh Thái Bình; 01 bình thủy tinh sử dụng ma túy đá; 01 máy hàn (dính) túi ninon.

- Trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Vũ Đ; 01 ví giả da màu đen đã cũ; 01 điện thoại Vivo đã qua sử dụng; 01 đồng hồ mặt tròn, trên mặt đồng hồ có chữ ARMANI đã qua sử dụng và số tiền 4.800.000đồng vì không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng của vụ án C an huyện Tiền Hải đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải ngày 25/8/2017).

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Vũ Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/9/2017.

Cỡ chữ