- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A V - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2017/HSST Ngày 15/ 8/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lò Văn Phốn.
2. Ông Thào A Tủa.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Nhung.
Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Đình Hải: Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, mở phiên tòa xét xử, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 59/2017/HSST ngày 25 tháng 7 năm 2017.
Đối với bị cáo Sùng A V. (Tên gọi khác: Không). Sinh năm 1973.
Nơi sinh: Bản Tỉnh P, xã Sá N, huyện Tủa Ch, tỉnh Điện Biên.
Nơi ĐKHKTT: Bản Tả P.. 2, xã Tả P, huyện Tủa C.. - Điện Biên.
Chổ ở hiện nay: Bản H T 2, xã Na C S, huyện N P - Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm nương. Trình độ văn hóa: 02/12.
Dân tộc: Mông. Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Sùng A C (đã chết) và con bà Thào Thị S ( đã chết).
Có vợ Mùa Thị P và có 07 người con, lớn nhất 24 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi.
Gia đì nh bị cá o có 08 chị em ruột, bị cáo là thứ 05 trong gia đì nh.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 07 tháng 4 năm 2017. Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Sùng A V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về hành vi phạm tội như sau.
Vào khoảng 16 giờ ngày 07 tháng 4 năm 2017, bị cáo Sùng A V đi xe máy sang bản Mường Toong 3, xã Mường Toong, huyện Mường Nhé để thăm người thân thì không thấy ai ở nhà. Bị cáo Sùng A V để xe máy và một số tư trang khác ở nhà. Bị cáo Sùng A V đi bộ ra cuối bản để chơi thì gặp người đàn dân tộc Thái, không biết tên, tuổi địa chỉ. Bị cáo Sùng A V đã nhờ đi mua Hê rô in với số tiền là 80.000 VND ông ta đã đi mua cho bị cáo một gói nhỏ hê rô in, mua bán xong ông ta đi đâu không biết, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07 tháng 4 năm 2017 bị cáo Sùng A V bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện và bắt quả tang.
Ngày 10 tháng 4 năm 2017 Cơ quan cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Mườ ng Nhé, đã lậ p biên bả n mở niêm phong , xác đị nh trọ ng lượ ng vậ t chứ ng , thu đượ c của bị cáo Sùng A V là: 0,21gam đồ ng thờ i lấy đi 0,13 gam là m mẫ u vậ t gử i giá m đị nh chất ma túy. Số cò n lạ i là : 0,08 gam.
Bản kết luận giám đị nh số : 377/GĐ – PC 54 ngày 30 tháng 4 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Bi ên kế t luậ n: Mẫ u chất bột màu trắng gử i đế n giá m đị nh thu đượ c c ủa Sùng A V là Hê rô in. Số mẫ u vậ t 0,13 gam gử i giám định không hoàn lại theo quy định của pháp luật. Tổng trọng lượng vật chứng thu được là 0,21 gam là Hê rô in.
Bản cáo trạng số : 44/QĐ – VKS - HS ngày 24 tháng 7 năm 2017 của Viện kiể m sát nhân dân huyệ n Mườ ng Nhé truy tố bị cáo Sùng A V về tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự .
Đạ i diệ n Viện kiể m sát thực hành quyền công tố , tại phiên tòa hôm nay , lờ i luậ n tộ i giữ nguyên quan điể m truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.
Áp dụng khoản 1 Điề u 194; điể m p khoản 1 Điều 46 Bộ luậ t Hình sự năm 1999. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Sùng A V: 12 tháng đến 18 tháng tù.
Không áp dụng khoản 5 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự , hình phạt bổ sung là phạt tiề n đối với bị cáo Sùng A V.
Áp dụng Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng Hình sự. Tịch thu vật chứng tiêu hủ y theo quy đị nh pháp luật.
Bị cáo Sùng A V không tranh luậ n gì , về nộ i dung bả n luậ n tộ i , cũng như cáo trạng của đại diện Viện kiể m sá t.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Qua cuộ c thẩ m vấ n công khai tại phiên tò a và lời khai nhậ n của bị cáo Sùng A V, tại cơ quan điều tra , hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 07 tháng 4 năm 2017 bị cáo Sùng A V mang trên người gói hê rô in ở tại bản Mường Toong 3, xã Mường Toong, huyện Mường Nhé thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện và bắt quả tang hành vi tàng trữ 0,21 gam Hê rô in với mụ c đí ch để sử dụng.
Bị cáo Sùng A V có đủ năng lực chịu trá ch nhiệ m hình sự, biế t rõ “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” là trái quy đị nh củ a phá p luậ t sẽ bị trừ ng trị, nghiêm minh.
Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Sùng A V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma tú y” quy đị nh tạ i khoản 1 Điều 194 Bộ luậ t Hì nh sự , là hoàn toàn đúng ngườ i, đú ng tộ i và đú ng quy đị nh củ a pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng điểm Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo Sùng A V là nghiêm trọ ng, nguy hiể m cho xã hộ i, xâm hạ i đến chính sách độ c quyề n, quản lý của Nhà nước về các chất ma túy . Đồng thờ i ảnh hưởng đến trậ t tự , an toàn xã hội tại vùng sâu, vùng xa biên giớ i. Bị cáo Sùng A V là người bố, lẽ ra phải làm gương cho vợ, con, noi theo học tập.
Xét về nhân thân bị cáo Sùng A V sinh ra và lớn lên ở bản Tỉnh p, xã Sá Nhè, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, học hết lớp 02/12 ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1992 lấy vợ là chị Thào Thị Chư và làm ăn sinh sống tại địa phương. Năm 2007 cùng gia đình chuyển lên xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ. Năm 2009 chuyển về bản Háng Chua, xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo. Năm 2011 ly hôn với chị Thào Thị Chư. Năm 2012 chuyển về bản Tả Phìn 2, xã Tả Phìn, huyện Tủa Chùa. Sau đó vào tháng 01 năm 2017 chuyển về bản Huổi Thủng 2, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ làm ăn sinh sống. Bị cáo Sùng A V có nhận thức rất rõ, về tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng đến kinh tế gia đình.
Trong qúa trình điều tra, truy tố , xét xử bị cáo Sùng A V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình đó là tình tiết giảm nhẹ t rách nhiệm hình sự theo quy định tại điể m p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t Hì nh sự . Bị cáo Sùng A V là người dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa nên nhận thức pháp luật còn hạn chế.
Xét thấy cần ph ải cá ch ly bị cáo Sùng A V ra khỏ i đờ i số ng xã hộ i , mộ t thờ i gian nhấ t đị nh, để cải tạo , trở thà nh ngườ i có í ch đồ ng thờ i cũ ng răn đe , phòng ngừ a chung trong quầ n chú ng nhân dân và nhữ ng ai đang có ý định thực hiện hành vi phạm tộ i như bị cá o Sùng A V bị pháp luật trừng trị, nghiêm minh.
Tại phiên tò a; bị cáo Sùng A V đề nghị Hội đồng xét xử , xem xé t giả m nhẹ hình phạt cho bị cá o, lý do gia đình gặp nhiều khó khăn. Hộ i đồ ng xé t xử , sẽ xem xét, khi lượ ng hì nh phạ t đố i vớ i bị cá o.
Căn cứ khoản 5 Điề u 194 Bộ luậ t Hình sự , bị cáo Sùng A V còn bị hình phạt bổ sung là phạ t tiề n ; Hộ i đồ ng xé t xử , xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo Sùng A V còn gặp nhiều khó khăn nên không áp dụng.
Xét thấy đối với người đàn ông dân tộc Thái mua hộ Hê rô in cho bị cáo. Cơ quan điều tra không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên không đủ cơ sở, để xác minh làm rõ. Nên Viện kiểm sát không truy tố; Do vậy Hội đồng xét xử, không xem xét trong vụ án.
Về vật chứng vụ án: Áp dụ ng Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủ y 0,08 gam Hê rô in.
Về án phí : Căn cứ Điề u 99 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự ; Điề u 23 Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về á n phí , lệ phí Tòa án. Bị cáo Sùng A V thuộc diện hộ nghèo và có đơn nên không phải chịu á n phí theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
Vì các lẽ trên:
QUYẾ T ĐỊ NH:
1.Tuyên bố bị cá o: Sùng A V phạm tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điề u 194; điểm p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Sùng A V: 18 ( Mười tám) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh t ừ ngày bắ t tạ m giữ ngà y 07 tháng 4 năm 2017.
2 .Về xƣ̉ lý vậ t chƣ́ ng : Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng điểm c khoản 1 Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; điểm a khoản 2 Điề u 76 Bộ luậ t tố tụ ng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủ y: 0,08 gam Hê rô in đã niêm phong là vật chứng vụ án Sùng A V. Theo biên bả n bà n giao giữ a Công an huyệ n Mườ ng Nhé và Chi cụ c thi hà nh án dân sự huyện Mườ ng Nhé ngà y 25 tháng 7 năm 2017.
3. Về á n phí : Căn cứ Điều 99 bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điề u 12 Nghị Quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về á n phí, lệ phí Tò a á n. Miễn á n phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A V.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo . Bị cáo Sùng A Vàng đượ c quyề n kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV -THA ( TA tỉnh); - VKSND huyện Mường Nhé; - Công an huyện Mường Nhé; - Phòng HCTP Sở Tư Pháp; - Bị cáo; - TB UBND xã ; - Chi Cục THADS huyện Mường Nhé; - Lưu HS, HSTHA. Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Giàng A Bách Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |