- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn C phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyªn bè bÞ c¸o Lê Văn C ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:52/2017/HSST Ngày 13/7/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Huy Hoàng Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tạ Văn Tấn
2. Ông Nguyễn Đức Nghị
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Mai Hương - là Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2017/HSST, ngày 31 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo: Họ và tên: Lê Văn C, sinh ngày 10/12/1980. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Q, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Số CMND: 034080001454 cấp ngày 10 tháng 4 năm 2015. Dân tộc Kinh, quốc tịch Việt Nam, nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 6/12. Bố đẻ Lê Nguyễn Đinh, sinh năm 1958. Mẹ đẻ Nguyễn Thị Hạnh, sinh năm 1958. Cùng trú tại thôn Q, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Gia đình có 3 anh em. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/02/2017 đến ngày 02/3/2017 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ ngày 27/2/2017, tại đường 39A, khu vực trước cửa quầy thuốc Tân dược Minh Liễu, thuộc địa phận khu Thị An, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Lê Văn C, sinh năm 1980, trú tại thôn Q, xã T, Huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Khi kiểm tra, Lê Văn C đã thả 02 gói giấy tráng kim màu trắng từ tay trái xuống đất ngay cạnh chỗ C đứng. Cơ quan
- 1 -
Công an yêu cầu C nhặt lên để kiểm tra, bên trong cả hai gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục. C khai nhận đó là 02 gói ma túy (Hêrôin) của C, mục đích tàng trữ để sử dụng. Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong gói ma túy trên trước sự chứng kiến của người làm chứng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn C Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại Bản kết luận giám định số 66/KLGĐ - PC54 ngày 28/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Lê Văn Clà ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có trọng lượng 0,3105 gam.
Tại phiên toà: Bị cáo Lê Văn C trình bày bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 52/KSĐT, ngày 31/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 - Điều 194 - Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hồi 13 giờ ngày 27/02/2017, tại đường 39A, khu vực trước cửa quầy thuốc Tân dược Minh Liễu, thuộc địa phận khu Thị An, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Lê Văn C, sinh năm 1980, trú tại thôn Q, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3105 gam (Không phẩy ba nghìn một trăm linh năm gam) chất ma túy (Hêrôin) mục đích để sử dụng, bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Do đó giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn Cvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; khoản 3 Điều 7 và khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 01 (một) năm 03(ba) tháng đến 01( một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: không đề nghị
Bị cáo C thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo C đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo phạm tội lần đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
- 2 -
tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo Lê Văn C, sinh ngày 10/12/1980 đã có hành vi giấu trong người 0, 3105 gam (Không phẩy ba nghìn một trăm linh năm gam) ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng, bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Bản kết luận giám định số 66/KLGĐ-PC 54 ngày 28/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: 02 gói chứa chất bột màu trắng dạng cục thu giữ của Lê Văn Clà ma túy, loại Heroine có trọng lượng 0,3105gam. Hành vi của bị cáo C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Biên bản bắt người tội quả tang do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập ngày 27/02/2017. Biên bản quản lý đồ vật, tài sản do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập ngày 27/02/2017. Bản kết luận giám định số 66/KLGĐ - PC54 ngày 28/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Lời khai của người làm chứng: anh Nguyễn Văn Lâm, sinh năm 1989, trú tại thôn Hà Thanh, xã Cộng Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; anh Trần Thái Bình, sinh năm 1984 và ông Đỗ Văn Triều, sinh năm 1963, cùng trú tại khu Thị An, thị trấn Hưng Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
XÐt tÝnh chÊt, møc ®é nguy hiÓm hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o: Hµnh vi tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tóy mµ bÞ c¸o C thùc hiÖn lµ nguy hiÓm cho chính bản thân bị cáo và xã hội, ®· x©m ph¹m ®Õn chính sách độc quyền qu¶n lý của Nhà nước về c¸c chÊt ma tóy, lµm mÊt trËt tù trÞ an vµ g©y bÊt b×nh trong quÇn chóng nh©n d©n t¹i ®Þa ph ¬ng và là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác.
XÐt nh©n th©n bÞ c¸o, c¸c t×nh gi¶m nhÑ, tăng nặng tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Bị cáo C có nhân thân tốt thể hiện bị cáo C không có tiền án, tiền sự. Từ năm 2001 đến năm 2003 bị cáo C tham gia quân đội nhân dân Việt Nam đóng quân tại huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương sau đó xuất ngũ về địa phương. Do bị cáo C mắc nghiện ma túy cho nên đã phạm tội. Trong quá trình điều tra và t¹i phiªn toµ bị cáo thµnh khÈn khai b¸o. Do vậy bị cáo ® îc ¸p dông t×nh tiÕt gi¶m nhÑ theo quy ®Þnh t¹i ®iÓm p - kho¶n 1 và khoản 2 (bị cáo tham gia quân đội) §iÒu 46, Bé luËt h×nh sù. Bị cáo C không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo C không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, đang ở cùng với gia đình. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo C.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 66/KLGĐ-PC54 ngày 28/02/2017 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình ghi “Hoàn lại đối tượng giám định bao gồm: 0,2014 gam (Không phẩy hai nghìn không trăm mười bốn gam) mẫu gửi giám định và bao gói trong bao niêm phong số 66/KLGĐ”. Cần tịch thu để tiêu hủy.
Về nguồn gốc ma túy, Lê Văn C khai nhận: Ngày 27/02/2017 C đi bộ đến nhà người đàn ông tên Chi ở khu Thị An, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh
- 3 -
Thái Bình gặp và mua 02 gói ma túy (Heroin) của Chi với giá 400.000 đồng. Quá trình điều tra, xác định: tại khu Thị An, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có người tên là Nguyễn Quang Chi, sinh năm 1981, hiện nay Chi không có mặt tại địa phương, không ghi được lời khai của Chi. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tách ra, tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ, xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tõ nh÷ng ph©n tÝch trªn, Hội đồng xét xử xét thấy cÇn ph¶i tiếp tục c¸ch ly bÞ c¸o khái cuéc sèng x· héi trong mét thêi gian nhÊt ®Þnh, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o bÞ c¸o nãi riªng vµ phßng ngõa chung cho x· héi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyªn bè bÞ c¸o Lê Văn C ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; khoản 3 Điều 7 và khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13.
Xö ph¹t bị cáo Lê Văn C 01 (Một) năm 03(ba) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ ( ngày 27 tháng 02 năm 2017).
VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự. Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 66/KLGĐ-PC54 ngày 28/02/2017 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình ghi “Hoàn lại đối tượng giám định bao gồm: 0,2014 gam (Không phẩy hai nghìn không trăm mười bốn gam) mẫu gửi giám định và bao gói trong bao niêm phong số 66/KLGĐ. (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang quản lý).
Về án phí: Bị cáo C phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
BÞ c¸o Lê Văn C cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy, kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n (13-7-2017).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Hưng Hà; - Bị cáo C; - Chi cục THADS huyện Hưng Hà; - Công an huyện Hưng Hà; - Lưu hồ sơ vụ án./. - 4 - - 5 - | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Huy Hoàng |