vanban.org

Bản án 52/2017/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2017/DS-ST
Ngày 10-8-2017
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Võ Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lương, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân TP.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2017/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2017/QĐXX-ST ngày 03 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng VN; địa chỉ: Tầng 1-7 Tòa nhà Thủ Đô, số 72 Đường Đ, phường Đ, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H – sinh năm 1975; địa chỉ liên hệ: 124C đường N, phường M, thành phố Vũng Tàu là đại diện theo ủy quyền, giấy ủy quyền số 108/UQ-GĐK-TDTD ngày 01 tháng 6 năm 2017. (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Văn K – sinh năm 1973; địa chỉ: 3/6 đường N, phường M, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 12 năm 2016 và quá trình tố tụng tại Tòa, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng VN trình bày:

Ngày 12 tháng 7 năm 2013, Ngân hàng VN ký hợp đồng tín dụng số 20130711-113009-0003 với anh Lê Văn K, nội dung như sau: số tiền vay 63.000.000đ (Sáu mươi ba triệu đồng); thời hạn vay 36 tháng; ngày giải ngân 12-7-2013; ngày hết hạn hợp đồng 12-7-2016; mục đích vay tiêu dùng; lãi suất: 2,92%/tháng, theo thỏa thuận thì anh K phải thanh toán tổng số tiền 102.592.000 đồng (bao gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 2.850.000đ, tháng thứ 36 trả số tiền 2.842.000đ, trả vào ngày 12 tây hàng tháng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh K thanh toán được cho ngân hàng tổng số tiền 51.600.000đ, trong đó, tiền gốc là 24.729.045đ, tiền lãi là 26.870.955đ. Từ ngày 29-5-2016 đến nay, anh K không thực hiện việc trả tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh khi đến hạn, vi phạm hợp đồng tín dụng giữa hai bên.

Tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng yêu cầu anh K phải trả số tiền là: 50.992.000đ (Năm mươi triệu, chín trăm chín mươi hai ngàn đồng), trong đó: nợ gốc là 38.270.955đ (Ba mươi tám triệu, hai trăm hải mươi ngàn, chín trăm năm mươi lăm đồng), nợ lãi là 12.721.045đ (Mười hai triệu, bảy trăm hai mươi mốt ngàn, không trăm bốn mươi lăm đồng), tiền lãi từ ngày 29-5-2016 đến ngày 10-8-2017 không yêu cầu. Nếu Anh K không thực hiện việc trả số tiền 50.992.000đ thì đề nghị tính lãi phát sinh sau ngày Tòa án xét xử theo mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng đến khi anh K trả hết nợ cho ngân hàng.

- Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa, anh Lê Văn K xác nhận: Ngày 12 tháng 7 năm 2013, anh Lê Văn Kvới Ngân hàng VN ký hợp đồng tín dụng số 20130711-113009-0003, số tiền vay 63.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, anh Lê Văn K nhận tiền vay ngày 12-7-2013, theo thỏa thuận giữa hai bên, anh K phải trả tổng số tiền 102.592.000 đồng (bao gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 2.850.000đ, tháng thứ 36 trả số tiền 2.842.000đ, trả vào ngày 12 tây hàng tháng. Sau khi nhận tiền vay anh K trả cho Ngân hàng số tiền 2.850.000 đồng mỗi tháng cho đến ngày 29-5-2016 thì ngưng không trả nữa.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Lê Văn K xác nhận còn nợ của Ngân hàng VN số tiền là: 50.992.000đ (Năm mươi triệu, chín trăm chín mươi hai ngàn đồng), trong đó: nợ gốc là 38.270.955đ (Ba mươi tám triệu, hai trăm hải mươi ngàn, chín trăm năm mươi lăm đồng), nợ lãi là 12.721.045đ (Mười hai triệu, bảy trăm hai mươi mốt ngàn, không trăm bốn mươi lăm đồng). Anh K đồng ý trả hết số tiền trên cho ngân hàng nhưng được trả chậm mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng) và tiền lãi suất phát sinh sau ngày Tòa án xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng.

- Tại phiên toà Kiểm sát viênphát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và đương sự tuân theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

+ Tại phiên xét xử: Hô ̣i đồng xét xử , thư ký và đương sự tuân theo quy đi ̣nh của pháp luật.

+ Về nội dung: đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ngân hàng VN khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh Lê Văn K trả tiền nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, anh K đang sinh sống tại thành phố Vũng Tàu, theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

Về nội dung: Tại hợp đồng tín dụng số 20130711-113009-0003 ngày 12 tháng 7 năm 2013, thì anh Lê Văn K có vay của Ngân hàng VN, số tiền vay 63.000.000 đồng, anh K đã nhận tiền vay theo xác nhận của anh K tại phiên tòa ngày hôm nay; Cho thấy, việc vay tiền giữa hai bên là có thật.

Thực hiện hợp đồng: Tại phiên tòa hôm nay; anh H và anh K xác nhận: anh K phải trả tổng số tiền 102.592.000 đồng (bao gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 2.850.000đ, tháng thứ 36 trả số tiền 2.842.000đ, trả vào ngày 12 tây hàng tháng; Anh K có trả cho Ngân hàng với tổng số tiền 51.600.000đồng nhưng trả không đều và đúng kỳ hạn cho đến ngày 29-5-2016 thì ngưng không trả nên ngân hàng yêu cầu buộc anh K phải trả số tiền còn lại cho Ngân hàng là 50.992.000đ (Năm mươi triệu, chín trăm chín mươi hai ngàn đồng), tiền lãi từ ngày 29-5-2016 đến ngày 10-8-2017 không yêu cầu. Nếu anh K không thực hiện việc trả số tiền 50.992.000đ thì đề nghị tính lãi phát sinh sau ngày Tòa án xét xử theo mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng đến khi anh K trả hết nợ cho ngân hàng.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy: tại điều 2 của hợp đồng tín dụng 20130711-113009-0003, hai bên thỏa thuận thời hạn vay 36 tháng, nợ gốc, lãi được trả dần theo tháng nhưng anh K chỉ trả nợ đến ngày 29-5-2016 thì ngưng trả đến nay là vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, ngân hàng yêu cầu anh K phải trả số tiền còn lại 50.992.000 đồng là có cơ sở chấp nhận, tiền lãi từ ngày 29-5-2016 đến ngày 10-8-2017 ngân hàng không yêu cầu nên không xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Văn K phải nộp 2.549.600 đồng. Ngân hàng không phải nộp nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 91 Luâ ̣t các tổ chứ c tin du ̣ng ; Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 27

́

của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VN đối với anh Lê Văn K.

Buô ̣c anh Lê Văn K phải trả cho Ngân hàng VN số tiền 50.992.000đ (Năm mươi triệu, chín trăm chín mươi hai ngàn đồng), kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 20130711-113009-0003 ngày 12 tháng 7 năm 2013 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh Lê Văn K phải nộp 2.549.600 (Hai triệu năm trăm bốn mươi chín ngàn sáu trăm)đồng.

- Hoàn số tiền: 1.500.000(Một triệu năm trăm ngàn) đồng cho Ngân hàng VN theo Biên lai thu tạm ứng số 03344 ngày 20-3-2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

̀

̉

TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM

Cỡ chữ