vanban.org

Bản án 518/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Ánh P.

1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Ánh P được ly hôn với ông Trương Ngọc Anh Đ . Giấy chứng nhận kết hôn số 112, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/8/2008 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Ánh P.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 518/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Hoàng Nam

2. Bà Phan Thị Dòn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền– Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 80/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 226/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Ánh P, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Trương Ngọc Anh Đ , sinh năm 1987; địa chỉ: xã B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 09/11/2023, các bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Ngô Thị Ánh P trình bày như sau:

Bà Ngô Thị Ánh P và ông Trương Ngọc Anh Đ chung sống với nhau vào năm 2008 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 112, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/8/2008. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thường hay cãi vã, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống ông Đ thường hay tụ tập bạn bè ăn nhậu không lo làm ăn, khi đã uống rượu, bia về nhà ông Đ thường có lời lẽ xúc phạm bà P, tính tình không hợp, không quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay bà P nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Trương Ngọc Anh Đ để ổn định cuộc sống và rõ ràng về mặt pháp lý.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Trương Ngọc Huỳnh Trúc U, sinh ngày 08/3/2009. Bà P yêu cầu ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung và bà Ngô Thị Ánh P cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 01 Dương lịch hàng tháng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trương Ngọc Anh Đ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án và cũng không có ý kiến phản hồi.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, quyền và lợi ích hợp pháp được đảm bảo. Tuy nhiên, Toà án đưa vụ án ra xét xử đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định khoản 1 Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Ngô Thị Ánh P được ly hôn với ông Trương Ngọc Anh Đ. Giao con chung là Trương Ngọc Huỳnh Trúc U, sinh ngày 08/3/2009 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà Ngô Thị Ánh P cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Bà Ngô Thị Ánh P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Ngô Thị Ánh P và ông Trương Ngọc Anh Đ chung sống trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Nay bà P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đ , bị đơn cư trú tại huyện Bình Chánh nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

2. Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

- 2 -

- Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: Ngày 17/4/2024, nguyên đơn bà Ngô Thị Ánh P có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu vắng mặt của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định, nhưng ông Trương Ngọc Anh Đ không đến Tòa án trong cả hai lần được Tòa án triệu tập mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần Tòa án mở phiên tòa xét xử. Do vậy việc xét xử vắng mặt ông Trương Ngọc Anh Đ là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

3. Về yêu cầu của đương sự:

a) Về quan hệ hôn nhân:

Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về tình cảm và kinh tế. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Ông Đ hay có những lời lẽ xúc phạm bà P, vợ chồng không quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc.

Theo kết quả xác minh của Công an xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: “Đương sự Trương Ngọc Anh Đ , sinh năm 1987, HKTT: xã B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Thực tế có cư trú tại địa phương”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành mời các bên đến để hòa giải hàn gắn gia đình theo quy định; tuy nhiên, ông Đ không đến Tòa án là không có thiện chí đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình, cũng như không có ý kiến phản hồi phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được…”.

Đối chiếu nội dung sự việc với các quy định của pháp luật thì việc bà P yêu cầu ly hôn với ông Đ là có đủ cơ sở. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.

b) Về con chung: Có 01 con chung tên là Trương Ngọc Huỳnh Trúc U, sinh ngày 08/3/2009. Bà P yêu cầu ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung và bà Ngô Thị Ánh P cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

Căn cứ vào kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân xã Bình Chánh: “Qua rà soát, sổ đăng ký khai sinh, sổ đăng ký kết hôn hiện lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã B, thể hiện thông tin bà Ngô Thị Ánh P và ông Trương Ngọc Anh Đ có đăng ký kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 112 ngày 04/8/2008 của UBND xã B

- 3 -

cấp)”; có đăng ký khai sinh cho con tên Trương Ngọc Huỳnh Trúc U, sinh năm 2009 (khai sinh số 78 ngày 24/3/2009 của UNBD xã B cấp).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Toà án đã tiến hành lập biên bản không tiến hành hoà giải và bà Ngô Thị Ánh P có bản tường trình nội dung lời khai của bà P hiện nay vợ chồng bà đã sống ly thân, con chung là trẻ Trương Ngọc Huỳnh Trúc U đang sống chung với ông Đ . Mỗi lần bà P tới thăm con thì bị ông Đ ngăn cản, không cho bà dẫn con đi chơi. Do đó bà P không thể dẫn con đến Tòa để ghi nhận ý kiến của trẻ. Tòa án đã tiến hành triệu tập ông Đ , nội dung tại Giấy triệu tập yêu cầu ông Đ dẫn theo con chung đến Tòa để ghi nhận ý kiến của trẻ, tuy nhiên ông Đ vắng mặt không rõ lý do. Toà án đã tống đạt hợp lệ cho ông Đ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trong đó nêu rõ nội dung P yêu cầu giao con chung cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà P cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên ông Đ không đến Toà án để làm việc và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu trên.

Căn cứ kết quả xác minh của Công an xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh: “Đương sự Trương Ngọc Huỳnh Trúc U, sinh năm 2009 hiện đang sinh sống với ông Trương Ngọc Anh Đ tại địa chỉ xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh”. Như vậy, có cơ sở xác định con chung là trẻ U hiện nay đang sống chung với ông Đ , việc bà P yêu cầu ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung để ổn định cho việc học tập và cuộc sống của con là có căn cứ và phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của trẻ.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P về việc giao con chung cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng và bà Ngô Thị Ánh P cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 01 Dương lịch hàng tháng.

c) Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Ngô Thị Ánh P được ly hôn với ông Trương Ngọc Anh Đ . Giao con chung Trương Ngọc Huỳnh Trúc U cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

- 4 -

5. Về án phí: Bà Ngô Thị Ánh P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng(ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Ánh P.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Ánh P được ly hôn với ông Trương Ngọc Anh Đ .

Giấy chứng nhận kết hôn số 112, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/8/2008 không còn giá trị pháp lý.

1.2 Về con chung:

Giao con chung Trương Ngọc Huỳnh Trúc U, sinh ngày 08/3/2009 cho ông Trương Ngọc Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

Hàng tháng vào ngày 01 dương lịch, bà P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), bắt đầu thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi phát sinh các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp, bà P chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì bà P phải trả lãi đối với số tiền chậm cấp dưỡng theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thực hiện tại thời điểm thanh toán.

Bà Ngô Thị Ánh P không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được cản trở bà P thực hiện quyền này.

Vì quyền lợi của trẻ chưa thành niên, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể xem xét quyết

- 5 -

định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.

2. Về án phí: Bà Ngô Thị Ánh P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm nghìn) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23P số 0033097 ngày 17/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P phải nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

3. Bà Ngô Thị Ánh P và ông Trương Ngọc Anh Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ