- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành X - Đánh bạc - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Đại P; sửa Bản án sơ thẩm số 174/2026/HSST ngày 03/4/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 517/2026/HS-PT Ngày: 08-07-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Uyên Thy.
Các Thẩm phán:
1. Bà Đoàn Thị Hương Giang
2. Ông Lê Công Huân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 07 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 399/2026/HSPT ngày 19 tháng 05 năm 2026, đối với bị cáo Hà Đại P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2026/HSST ngày 03/04/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Hà Đại P; Giới tính: Nam; Sinh ngày 11/8/2002 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi thường trú và nơi ở: tổ A, khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Cha: không rõ; Mẹ tên Hà Phương H, sinh năm 1981; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại (có mặt).
Ngoài ra còn có các bị cáo Nguyễn Thành X, Nguyễn Ngọc H1, Lê Văn K, Nguyễn Ngọc Anh T, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vì muốn kiếm tiền từ hoạt động tổ chức cờ bạc, ngày 04/12/2024, Nguyễn Thành X sử dụng nhà số A ấp E (ấp T cũ), xã T, huyện H (nay là xã Đ) Thành phố Hồ Chí Minh để tổ chức cho các con bạc tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài sập xám được thua bằng tiền.
Về cách thức tham gia đánh bài và thu xâu, Xương quy định: Đánh bài xập xám ăn chi, ăn thua xả láng (không quy định mức chi tối đa của từng ván) mỗi chi là 500.000 đồng, sòng bài gồm 04 người đánh, đổ 03 hột xí ngầu trong tô để chọn tụ (người kinh bài là người đổ hột đầu tiên, tính là số 01, sau đó theo vòng tua tay phải tính theo 4 người để điểm số khi đến số 18 thì thôi, số 3,7,11,15 thì lấy tụ đối diện, 4,8,12,16 thì chọn tụ lùi bắt đầu từ người ngồi vị trí số 4, 5,9,13,17 lấy tụ tại chỗ), nếu nhà nào thắng từ 27 chi trở lên thì X thu xâu 01 chi là 500.000 đồng, người thắng để tiền xâu vào thùng giấy Xương chuẩn bị sẵn để trên bàn. Về cách chơi binh bài xập xám như sau: Khi binh bài xập xám chia làm 03 phần, 03 lá bài đầu, 05 lá bài giữa, 05 lá bài cuối; lá Ách tính 04 chi (nếu nhà nào không có ách thì thua 04 chi).
Khoảng 10 giờ ngày 01/01/2025, Nguyễn Thành X gọi điện thoại cho Lê Văn K, Nguyễn Ngọc H1 và Nguyễn Ngọc Anh T (bé H2) đến tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền. Tuy nhiên, số điện thoại của T không gọi được nên X có điện thoại cho Hà Đại P, là tài xế thường xuyên chở T đến nhà của X tham gia đánh bạc) nhờ P nhắn cho T đến nhà Xương đánh bài xập xám ăn thua bằng tiền. Do có nhiều lần chở T đến tham gia đánh bài tại nhà của X nên sau nghi nghe X gọi, P có thuê xe ô tô biển số 72A-602.09 của ông Võ Hoàng D (sinh năm 1998; Nơi đăng ký thường trú: tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), điều khiển đến nhà của Nguyễn Ngọc Anh T để báo cho T biết và đợi chở T đến nhà số A, ấp E (ấp T cũ), xã T, huyện H, TP . để tham gia đánh bài ăn thua bằng tiền.
Do thời điểm này, tại nhà của Nguyễn Thành X có Lê Văn K và Nguyễn Ngọc H1, thiếu một người để đánh bài ăn thua bằng tiền nên X gọi cho T để Phan Tấn T1 (là người được Xương cho ở nhờ tại nơi tổ chức đánh bài của Xương để cầm tụ thay cho các đối tượng tham gia đánh bạc khi chưa đến kịp) tham gia đánh bài thay T trong thời gian chờ T tới, T đồng ý nhờ T1 chơi thay T để giữ tụ. Lúc này, X có đưa cho T1 50.000.000 đồng để T1 tham gia đánh bài cùng với X, H1 và K. Đến khoảng 14 giờ, nhóm của X, K, H1 và T1 chơi được khoảng 09 ván, T1 thua H1 03 chi tương đương số tiền 1.500.000 đồng thì T đến nên T1 nhường chỗ lại cho T tham gia, T có lấy số tiền 1.500.000 đồng trả cho H1 là tiền mà T1 đã tham gia chơi thua ván trước. Đồng thời, T1 trả lại cho X số tiền 50.000.000 đồng trước đó X đưa cho T1 tham gia đánh bạc.
Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc là 94.200.000 đồng, tiền xâu 7.000.000 đồng, 10 bộ bài chưa sử dụng, 3 bộ bài đã qua sử dụng và các đồ vật, thiết bị điện tử liên quan để làm rõ, đồng thời thu giữ trên người từng đối tượng như sau:
- Đối với Nguyễn Thành X:
Thu giữ tại vị trí đánh bạc số tiền 64.500.000 đồng, trong người số tiền 50.000.000 đồng. Quá trình làm việc, X khai nhận: Ngày 01/01/2025, X mang theo số tiền 100.000.000 đồng để tham gia đánh bạc (trong đó để số tiền 50.000.000 trên bàn và trong người số tiền 50.000.000 đồng). Khi bị bắt quả tang, Xương thắng số tiền 14.500.000 đồng. Do đó, tổng số tiền Xương tham gia đánh bạc là 114.500.000 đồng. Xương bắt đầu tổ chức đánh bạc từ 04/12/2024 đến ngày 01/01/2025 thì bị bắt, trong đó X tổ chức được khoảng 15 ngày, mỗi ngày thu lợi khoảng 10.000.000 đồng, tổng số tiền X hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc khoảng 150.000.000 đồng.
- Đối Với Nguyễn Ngọc H1:
Thu giữ trên người số tiền 70.000.000 đồng. Quá trình làm việc, H1 khai nhận: Ngày 01/01/2025, X có cho H1 mượn số tiền 20.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến thời điểm bị bắt quả tang H1 thắng số tiền 50.000.000 đồng, tổng cộng số tiền H1 tham gia đánh bạc là 70.000.000 đồng.
- Đối với Lê Văn K:
Thu giữ tại nơi đánh bạc số tiền 23.700.000 đồng. Quá trình làm việc, K khai nhận: Vào ngày 01/01/2025, K mang theo số tiền 70.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt, K thắng được 3.700.000 đồng. Tổng số tiền K tham gia đánh bạc là 73.700.0000 đồng.
- Đối với Nguyễn Ngọc Anh T:
Thu giữ tại nơi đánh bạc số tiền 6.000.000 đồng, tiền trong người là 34.500.000 đồng. Quá trình làm việc, T khai nhận: T mang theo số tiền 70.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt quả tang T thua 29.500.000 đồng. Tổng số tiền T tham gia đánh bạc là 70.000.000 đồng.
- Đối với Phan Tấn T1:
Quá trình điều tra xác định, ngày 01/01/2025, Phan Tấn T1 được Nguyễn Ngọc Anh T nhờ ngồi chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền thay T để giữ tụ khi T chưa có mặt nếu đánh thắng thì được người ngồi tụ chính trả công từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, khi chơi X có đưa cho T1 số tiền 50.000.000 đồng để tham gia đánh bạc. Do đó, số tiền tham gia đánh bạc của T1 là 50.000.000 đồng. Túc đến sòng bài do X tổ chức từ đầu tháng 12/2024 đến ngày 01/01/2025, T1 hưởng lợi số tiền 6.000.000 đồng, vào ngày 01/01/2025, T1 chưa được trả công.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2026/HSST ngày 03/04/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hà Đại P 01 (một) năm tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/04/2026 bị cáo Hà Đại P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Hà Đại P trình bày: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang chăm lo cho em ruột và bà ngoại là bà Trương Kim A, sinh năm 1950, hiện đã 76 tuổi, tuổi cao, sức khỏe yếu, mắc nhiều bệnh và được tặng Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Bị cáo cung cấp các tài liệu chứng minh quan hệ giữa bị cáo với bà Trương Kim A và sổ khám bệnh của bà để Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Hà Đại P tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2026/HSST ngày 03/04/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên là đúng người, đúng tội, phù hợp so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Hà Đại P 01 năm tù về tội “Đánh bạc”.
Bị cáo Hà Đại P không có ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để về chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Hà Đại P tại phiên tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
Khoảng 10 giờ ngày 01/01/2025, Nguyễn Thành X gọi điện thoại cho Hà Đại P là tài xế thường xuyên chở Nguyễn Ngọc Anh T đến nhà của X tham gia đánh bạc, nhờ thông báo và chở T đến địa điểm đánh bạc. Mặc dù, biết rõ Nguyễn Thành Xương cùng các đối tượng khác tổ chức đánh bạc bằng hình thức đánh bài xập xám ăn thua bằng tiền, nhưng P vẫn đến nhà Nguyễn Ngọc Anh T thông báo và chở T đến địa điểm đánh bạc để tham gia cùng các bị cáo khác. Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 01/01/2025, Phòng C Công an Thành phố H kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Thành X, Nguyễn Ngọc Anh T, Lê Văn K, Nguyễn Ngọc H1 và Phan Tấn T1 đang đánh bạc bằng hình thức chơi bài binh xập xám thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 300.200.000 đồng. Trong đó, Nguyễn Ngọc Anh T sử dụng 70.000.000 đồng để tham gia đánh bạc.
Hành vi của bị cáo Hà Đại P là giúp sức cho Nguyễn Ngọc Anh T thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền trên 50.000.000 đồng thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Do đó, bị cáo Hà Đại P đã phạm vào tội "Đánh bạc" theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đồng thời xác định bị cáo chỉ giữ vai trò đồng phạm thứ yếu, không trực tiếp tham gia đánh bạc, không thu lợi bất chính nên đã áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ.
Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo Hà Đại P chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu thực hiện hành vi phạm tội, trong vụ án chỉ tham gia với vai trò thứ yếu, không đáng kể, không trực tiếp tham gia đánh bạc và không hưởng lợi bất chính từ hành vi phạm tội. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo thuộc trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm các tài liệu chứng minh bà ngoại của bị cáo là bà Trương Kim A, sinh năm 1950, hiện đã 76 tuổi, tuổi cao, sức khỏe yếu, mắc nhiều bệnh và bị cáo là người trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng. Bà ngoại bị cáo được tặng Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Đồng thời, bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, là lao động chính, trực tiếp tạo thu nhập để chăm lo cho gia đình và phụng dưỡng bà ngoại và em trai. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới, chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi quyết định hình phạt, nên Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, có khả năng tự cải tạo và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Từ khi được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, bị cáo đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật và chấp hành tốt lệnh triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Việc bắt giam bị cáo là không cần thiết, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, chấp nhận cho bị cáo Hà Đại P được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Đại P, sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo Hà Đại P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Đại P; sửa Bản án sơ thẩm số 174/2026/HSST ngày 03/4/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt Hà Đại P 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Hà Đại P cho Ủy ban nhân dân phường P, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự năm 2025.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Hà Đại P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Hà Đại P)
| Nơi nhận: - TANDTC; - VKSND TP.HCM; (3) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - P.PV06 - CA TP.HCM; (1) - TAND Khu vực 8; (1) - VKSND Khu vực 8; (1) - THADS Khu vực 8; (1) - Bị cáo; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu Tòa Hình sự, hồ sơ (25). (8) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM (1) THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Uyên Thy |