vanban.org

Bản án 516 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử : Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị Y và ông Nguyễn Chí L là quan hệ vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Y - ông L"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án: 516/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07/12/2022
V/v: “Tranh chấp Hôn nhân &
Gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân;

Ông Võ Hoàng Nghiệp.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Quang Khải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 366/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 748/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 794/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ 09, ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Chí L, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ 09, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

(Bà Y, ông L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Nguyễn Thị Y trình bày: Hôn nhân giữa bà Y với ông L là tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân, được cha mẹ đồng ý và tổ chức lễ cưới năm 2011 nhưng đến nay chưa đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 9/2021 thì phát sinh mâu thuẩn và đến tháng 4/2022 mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cự cải, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình, ông L không chăm lo cho gia đình. Nhận thấy không thể hàn gắn và bà Y cũng không còn tình cảm với ông L nên sống ly thân từ khoảng tháng 5/2022 cho đến nay.

Từ khi ly thân đến nay, gia đình hai bên cũng khuyên ngăn, hàn gắn tình cảm cho vợ chồng bà Y nhưng bà Y thấy mình không cò tình cảm với ông L nên bà xin được ly hôn với ông L.

Về con chung: Có 02 con chung: 01/ Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 19/02/2011; 02/ Nguyễn Quốc K, sinh ngày 01/8/2014; hiện con chung đang sống với bà Y. Khi ly hôn, bà Y yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án ra thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì Ông L vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử (HĐXX) nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.

Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.

Theo Thông báo ngày 02/11/2022, ông Ngô Phi H – Phó Trưởng Công an xã P cung cấp: Hiện ông Huỳnh Văn Chôm vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương.

Biên bản xác minh ngày 28/10/2022, ông Ngô Phi Hùng – Phó Trưởng Công An xã P cung cấp cho Tòa án hiện ông Nguyễn Chí L vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương.

Tại phiên toà hôm nay: Bà Y vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông L vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX không công nhận bà Nguyễn Thị Y và ông Nguyễn Chí L là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Yến và nguyện vọng của hai con chung là cháu Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 19/02/2011 và cháu Nguyễn Quốc K, sinh ngày 01/8/2014, giao hai con chung cho bà Y được tiếp tục nuôi dạy.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, do bà Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của bà Y.

Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Yến yêu cầu được ly hôn với ông L. Ông L cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Y vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông L được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Y, ông L theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Hôn nhân giữa bà Y và ông L do tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới vào năm 2011.

Lẽ ra, hôn nhân được công nhận nhưng bà Y xác định từ khi chung sống đến nay chưa đăng ký kết hôn. Lời trình bày của bà phù hợp với Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 181/UBND-XNTTHN ngày 29/6/2022 của Ủy ban nhân dân xã Q và tại Thông báo ngày 02/11/2022 do Công an xã P cung cấp xác định trình tình trạng hôn nhân của ông Nguyễn Chí L: Chưa kết hôn. Căn cứ theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 không công nhận bà Y và ông L là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Có 02 con chung: 01/ Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 19/02/2011; 02/ Nguyễn Quốc K, sinh ngày 01/8/2014; hiện con chung đang sống với bà Y, do bà Y nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu N và cháu K đang sống chung với và bà Y và tại biên bản ghi lời khai các cháu cũng có nguyện vọng được sống với bà Y. Do đó, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu N và cháu K cho bà Y được tiếp tục nuôi dạy.

Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, Bà Yến tự nguyện rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét thấy nên công nhận sự tự nguyện của đương sự.

Hội đồng xét xử cũng giải thích cho các đương sự biết: Bà Y cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Y phải chịu án phí hôn nhân & gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 51, Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử : Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị Y và ông Nguyễn Chí L là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Y được tiếp tục nuôi dạy hai con chung tên: 1/ Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 19/02/2011; 2/ Nguyễn Quốc K, sinh ngày 01/8/2014.

Công nhận sự tự nguyện của bà Y về việc không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Y cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà bà Yến đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A theo biên lai thu số: 0007107 ngày 28/9/2022.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Cỡ chữ