- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của anh Nguyễn Anh H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 516/2023/DS-PT Ngày: 19-12-2023 V/v tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒ A ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hội
Các Thẩm phán:
Ông Lê Khắc Thịnh
Ông Sỹ Danh Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bạch Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 251/2023/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2023/DS-ST ngày 02/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 412/2023/QĐPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Anh H, sinh năm 1978. (Có mặt)
Địa chỉ: Số I, Lô H, KDC T, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Ông Đinh Thái H1, sinh năm 1968. (Có mặt)
Địa chỉ: Số A, đường R, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
3. Ngườ i có quyền lợi, nghia vụ liên quan:
̃
3.1. Bà Châu Thị S, sinh năm 1976. (Vắng mặt)
Đi ̣a chi: Số B, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.̉
3.2. Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần N2.
Tru ̣ sở : Số A, L, quận B, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D-Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Duy P; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần N2- Chi nhánh Đ2. (Xin vắng mặt)
3.3. Ủy ban nhân dân thành phố S. (Xin vắng mặt)
Tru ̣ sở : 530A, Nguyễn Sinh S1, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Người đại diê ̣n theo ủy quyền là ông Bùi Thanh S2-Chức vụ: Phó Chủ ti ̣ch Ủy ban nhân dân thành phố S.
4. Ngườ i khá ng cá o: Anh Nguyễn Anh H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ Á N:
- Người đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc phần đất thử a 427, tờ bản đồ số 32, diê ̣n tich 446,8m², to ̣́
a la ̣c ta ̣i khóm T, phường A, thành phố S do anh Nguyễn Anh H đứ ng tên quyền sử du ̣ng đất là do nhâ ̣n chuyển nhượng từ bà Châu Thị S theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất ngày 20/8/2020. Đến ngày 18/9/2020 thì anh H được đứ ng tên giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất (điều chinh trang tư). Trưở
́ c khi nhâ ̣n chuyển nhượng và khi được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n thi không cò
́ tiến hành đo đa ̣c thực tế.
Giáp ranh vớ i thử a đất của anh H là thử a đất 440, tờ bản đồ số 32 do ông Đinh Thái H1 đứ ng tên quyền sử du ̣ng đất. Khi bà S giao đất cho anh H thi bà ̀ S chi ranh đẩ
́t giữa hai thử a đất là vách tườ ng nhà phia trướ
́ c của ông H1 kéo thẳng ra 02 tru ̣ ta ̣i vi ̣ tri M1 và M7, lúc giao đất thi ông H1 có mă ̣t và thống nhất.
́
̀ Các tru ̣ này khi anh H nhâ ̣n đất thi đà cõ ́ sẵn, anh H không rõ là do ai trồng.
Ngày 20/9/2020, anh H tiến hành tháo dỡ căn nhà có sẵn trên đất và khai hoang đất, thuê ngườ i săn lắp mă ̣t bằng để chuẩn bi ̣ xây dựng công trinh trên
̀ đất, tuy nhiên trong thờ i gian chờ được cấp giấy phép xây dựng thi ông H1 tranh̀ chấp ranh vớ i anh H, cho rằng phần ranh của hai bên là đườ ng thẳng kéo từ tru ̣ M1 đến tru ̣ M7 và tiến hành xây dựng vách tườ ng kiên cố vào ngày 27/10/2021 lấn qua đất anh H mô ̣t phần diê ̣n tich qua đo đa ̣́
c thực tế là 86,6m², từ đó giữa anh H và ông H1 phát sinh tranh chấp.
Nay anh H yêu cầu xác đi ̣nh ranh đất giữa thử a 427 và thử a 440 của ông H1 là đườ ng thẳng nối các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7 theo sơ đồ đo đa ̣c ngày 17/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S và yêu cầu ông H1 tháo dỡ, di dờ i vách tườ ng kiên cố trên đất tranh chấp trả la ̣i cho anh phần đất lấn chiếm có diê ̣n tich đo đa ̣́
c thực tế là 86,6m². Anh H không hỗ trợ chi phi di dớ
̀ i.
Anh H xác đi ̣nh hiê ̣n nay bản chinh giấ
́y chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng thử a 427 anh đang giữ, không có thế chấp vay cho ai.
Ngoài ra, anh H xác đi ̣nh trong vu ̣ án này anh H không có yêu cầu tranh chấp gi đồ ́i vớ i bà Châu Thị S.
- Bị đơn ông Đinh Thái H1 trình bày:
Phần đất của ông có nguồn gốc từ ông ba H2 (không nhớ ho ̣ tên) là chú ruô ̣t của ông Nguyễn Văn Đ (là chủ đất trướ c khi bà S được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n), gia đinh ông H1 nhâ ̣̀
n chuyển nhượng vào khoảng năm 2003 và được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n cho hô ̣ Đinh Thái H3 (ông H3 là em ruô ̣t ông H1), thờ i gian được cấp giấy thi ông H1 không nhờ
́ rõ. Đến năm 2012, thi gia đì
nh thồ
́ng nhất tă ̣ng cho bà Trần Thị T là me ̣ ruô ̣t của ông H1 (bà T được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n thử a 53, tờ bản đồ 32, diê ̣n tich 1.152,7m² vá
̀o ngày 06/7/2012). Đến ngày 30/6/2017 thi tă ̣̀ ng cho lại ông. Đến ngày 25/10/2017, ông tă ̣ng cho mô ̣t phần diê ̣n tich cho ông Đinh Văn Đ1, diê ̣n tich còn la ̣i 864,7m², số thử a thay đổi
́
́
thành 440, tờ bản đồ 32. Khi hô ̣ Đinh Thái H3, bà T được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n có tiến hành đo đa ̣c hay không thi ông không rò
̃, còn khi ông được tă ̣ng cho và cấp giấy chứ ng nhâ ̣n thi không cò
́ tiến hành đo đa ̣c thực tế.
Ranh giớ i giữa thử a đất của ông và anh H từ trướ c đến nay được xác đi ̣nh là đườ ng thẳng nối từ tru ̣ mốc M1 đến tru ̣ mốc M7, ranh giớ i này là do ông Đ (chủ đất trướ c khi bà S được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n) xác đi ̣nh vớ i gia đinh cù
̉a ông, các tru ̣ này đa cõ ́ sẵn từ lúc gia đinh ông nhâ ̣̀
n chuyển nhượng, hiê ̣n nay các tru ̣ này vẫn còn.
Ông xác đi ̣nh không có viê ̣c ông thỏa thuâ ̣n xác đi ̣nh ranh vớ i bà S hay anh H, viê ̣c anh H trinh bà
̀y khi bà S giao đất thi cò ́ mă ̣t ông để thống nhất xác đi ̣nh ranh giữa hai thử a ta ̣i vách tườ ng nhà tro ̣ của ông và kéo thẳng ra các tru ̣ M1, M7 là không đúng sự thâ ̣t.
Ông xác đi ̣nh, từ khi gia đinh ông về sồ
́ng trên thử a 440 cho đến năm 2020 thi ông Đ vẫn sồ
́ng trực tiếp trên thử a thửa 427 của anh H, nên ông không biết viê ̣c ông Đ đa chuyển nhượ̃
ng cho ngườ i khác. Khi anh H nhâ ̣n chuyển nhượng phần đất thử a 427 xong, ông Đ di dờ i đi nơi khác thi ông mờ
́ i biết, đồng thờ i khi thấy anh H chuẩn bi ̣ xây dựng trên đất nên có đến gă ̣p anh H để nói về viê ̣c ranh đất giữa hai bên là đườ ng thẳng kéo từ mốc M1 đến M7, nhưng anh H la ̣i yêu cầu xác đi ̣nh ranh giữa hai thử a là theo vách nhà của ông H1 nên ông không đồng ý và xây dựng vách tườ ng kiên cố theo mốc M1-M6-M27.
Ông xác đi ̣nh không có lấn chiếm ranh đất của anh H tại thử a 427 nên ông không đồng ý theo yêu cầu xác đi ̣nh ranh của anh H theo các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7. Ông xác đi ̣nh ranh giới giữa thử a 440 của ông và thử a 427 của anh H là đườ ng thẳng từ mốc M1-M6-M27 (là phần vách tườ ng do ông xây trước đây) theo sơ đồ đo đa ̣c ngày 17/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. (tại Hinh 2 cù
̉a Sơ đồ đo đa ̣c) thi cò ́ vách tườ ng kiên cố và phần sân lát ga ̣ch men của ông xây dựng, ông xác đi ̣nh sau khi có bản án, quyết đi ̣nh có hiê ̣u lực của Tòa xác đi ̣nh chính xác ranh giớ i giữa thử a 440 và 427 xong, nếu phần tài sản của ông có lấn qua phần đất của anh H thi ông sè
tự̃ di dờ i, không yêu cầu bồi thườ ng hỗ trợ. Ngoài ra, ông H1 không có yêu cầu gi ̀ khác.
Hiê ̣n nay giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất thử a 440 ông đang thế chấp ta ̣i Ngân hàng TMCP N2 - Chi nhánh Đ2 - Phòng G.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
+ Bà Châu Thị S có đơn xin vắ ng mặt nhưng trong quá trinh tố tụng
̀ có ý kiến trinh bày:
̀
Phần đất của anh H đang tranh chấp là thử a 427, tờ bản đồ số 32, to ̣a la ̣c ta ̣i khóm T, phường A, thành phố S có nguồn gốc từ ông Nguyễn Văn Đ chuyển nhượng la ̣i cho ông Trương Vĩnh T1. Ngày 16/01/2013, ông T1 chuyển nhượng la ̣i cho bà S, đến ngày 13/3/2013 bà S được UBND thành phố S cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất thử a 48, tờ bản đồ số 32, diê ̣n tich 770,4m². Đến năḿ 2017, bà S chuyển nhượng mô ̣t phần diê ̣n tich cho ngướ
̀ i tên T2 (lâu quá không nhớ rõ ho ̣ tên), phần diê ̣n tich có
̀n la ̣i 446,8m² thi bà ̀ S được UBND thành phố S cấp giấy chứ ng nhâ ̣n thử a 427, tờ bản đồ 32 vào ngày 30/3/2017. Đến ngày 14/8/2020 thi bà ̀ S chuyển nhượng la ̣i toàn bô ̣ thử a 427 cho anh H. Khi chuyển nhượng không có tiến hành đo đa ̣c thực tế.
Ranh đất giữa phần đất của bà S và ông H1 trướ c đây đa đượ̃
c các bên thống nhất xác đi ̣nh bằng các tru ̣ đá và hàng cau sát vách tườ ng nhà tro ̣ của ông H1 (hiê ̣n nay thi hà ̀ng cau và các tru ̣ đá ở giữa đa không cõ
̀n, chi cỏ ̀n la ̣i 02 tru ̣ đá M1 và M7 ở 2 đầu).
Bà S xác đi ̣nh ranh đất giữa thử a 427 của anh H và thử a 440 của ông H1 là đườ ng nối từ các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7 theo Sơ đồ đo đa ̣c ngày 17/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S. Ngoài ra, bà S không có ý kiến tranh chấp gi trong vu ̣̀
án này.
+ Ủy ban nhân dân thành phố S có đơn xin vắng mặt, nhưng có văn bản ý kiến:
UBND thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 427, tờ bản đồ số 32 cho bà Châu Thị S ngày 30/3/2017 trên cơ sở: Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất ngày 17/3/2017 của bà Châu Thị S được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S thẩm tra đủ điều kiện tách thửa ngày 23/3/2017 và các quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tiến hành đo đạc thực tế. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Ủy ban thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 427, tờ bản đồ số 32 cho ông Nguyễn Anh H ngày 18/9/2020 trên cơ sở: Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất ngày 21/8/2020 của ông Nguyễn Anh H; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Châu Thị S, ông Phạm Văn T3 và ông Nguyễn Anh H ngày 20/8/2020 được Phòng C, quyển số 01 TP/CC- SCC/HĐGD và các quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tiến hành đo đạc thực tế. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Ủy ban thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 53, tờ bản đồ số 32 cho bà Trần Thị T ngày 06/7/2012 trên cơ sở: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa hộ ông Đinh Thái H3 và bà Trần Thị T ngày 31/5/2012 được Phòng C1, quyển số 01 TP/CC- SCC/HĐGD và các quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tiến hành đo đạc thực tế. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Ủy ban thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 53, tờ bản đồ số 32 cho ông Đinh Thái H1 ngày 30/6/2017 trên cơ sở: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị T, ông Đinh Văn Đ1 và ông Đinh Thái H1 ngày 03/5/2017 được Phòng C2, quyển số 01 TP/CC- SCC/HĐGD và các quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tiến hành đo đạc thực tế. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Ủy ban thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 440, tờ bản đồ số 32 cho ông Đinh Thái H1 ngày 25/10/2017 trên cơ sở: Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất ngày 17/7/2017 của ông Đinh Thái H1 được Chi nhánh Văn Phòng đăng ký Đất đai thành phố S thẩm tra đủ điều kiện tách thửa ngày 09/8/2017. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tiến hành đo đạc tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký Đất đai thành phố S ngày 27/7/2017. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Ủy ban thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 48, tờ bản đồ số 32 cho ông Trương Vĩnh T1 ngày 23/11/2012 trên cơ sở: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Hồng T4 và ông Trương Vĩnh T1 ngày 23/7/2012 được Phòng C3 tỉnh Đồng Tháp công chứng số 905, quyển số 02 TP/CC- SCC/HĐGD và các quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tiến hành đo đạc thực tế. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Ủy ban thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 48, tờ bản đồ số 32 cho bà Châu Thị S ngày 13/5/2013 trên cơ sở: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương Vĩnh T1 và bà Châu Thị S ngày 16/01/2013 được Phòng C3 tỉnh Đồng Tháp công chứng số 64, quyển số 01 TP/CC- SCC/HĐGD và các quy định pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tiến hành đo đạc thực tế. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 48, tờ bản đồ số 32 cho ông Trương Vĩnh T1 ngày 23/11/2012 thì thửa đất nêu trên được cấp cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Hồng T4. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tiến hành đo đạc thực tế. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Ngày 14/5/2012, ông Đinh Thái H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 53, tờ 32, diện tích 1.152,7m2, tọa lạc phường A, thành phố S. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tiến hành đo đạc thực tế tại Biên bản đo đạc xác định ranh đất ngày 29/4/2004 của UBND xã T. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Theo sơ đồ đo đạc ngày 17/02/2023 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký Đất đai thành phố S, phần đất thể hiện tại các mốc M1- M2- M3- M4- M5- M6-M7- M8- M9- M10- M11- M12- M13- M14- M1 có diện tích 396,8m2 có một phần thuộc thửa đất số 427, tờ bản đồ số 32 của ông Nguyễn Anh H.
Theo sơ đồ đo đạc ngày 17/02/2023 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký Đất đai thành phố S, phần đất thể hiện tại các mốc M1- M7- M27- M26- M25-M24- M23- M22- M21- M20- M19- M18- M17- M16- M15- M1 có diện tích 826,9m2, có một phần thuộc thửa đất số 440, tờ bản đồ số 32 của ông Đinh Thái H1.
Theo sơ đồ đo đạc ngày 17/02/2023 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký Đất đai thành phố S, phần đất thể hiện tại Hình 2 có diện tích 86,6m2, có một phần thuộc thửa đất số 440, tờ bản đồ số 32 của ông Đinh Thái H1 và một phần thuộc thửa đất số 427, tờ bản đồ số 32 của ông Nguyễn Anh H.
Theo sơ đồ đo đạc ngày 17/02/2023 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký Đất đai thành phố S, đường nối từ các mốc M1- M2- M3- M4- M5- M6- M7 không trùng với ranh được cấp giấy chứng nhận của hai thửa. Ranh ông H yêu cầu xác định có lấn qua thửa đất 440 của ông H1.
Theo sơ đồ đo đạc ngày 17/02/2023 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký Đất đai thành phố S, đường nối từ các mốc M1-M6-M27 không trùng với ranh được cấp giấy chứng nhận của hai thửa. Ranh ông H1 yêu cầu xác định không có lấn qua thửa đất 427 của ông H.
Theo sơ đồ đo đạc ngày 17/02/2023 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký Đất đai thành phố S, phần đất thể hiện tại các mốc M1- M2- M3- M4- M5- M6 thuộc thửa đất số 440, tờ bản đồ số 32 của ông Đinh Thái H1.
Theo sơ đồ đo đạc ngày 17/02/2023 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký Đất đai thành phố S, phần đất thể hiện tại các mốc M1-M27-M7-M6 có một phần thuộc thửa đất số 440, tờ bản đồ số 32 của ông Đinh Thái H1, có một phần thuộc thửa đất số 427, tờ bản đồ số 32 của ông Nguyễn Anh H và có một phần thuộc kênh thủy lợi.
+ Ngân hàng TMCP N2, Chi nhánh Đ2 vắng mặt, nhưng có văn bản ý kiến như sau:
Ông Đinh Thế H4 và Ngân hàng có ký kết hợp đồng tin du ̣́
ng số 105/2023/NHNT.ĐT/SĐ ngày 14/02/2023 để vay số tiền 2.000.000.000đồng, thờ i ha ̣n vay 12 tháng, mu ̣c đich vay vố
́n để kinh doanh. Để đảm bảo cho khoản vay, ông H4 có thế chấp quyền sử du ̣ng đất thử a 440, tờ bản đồ số 32, diê ̣n tich́ 864,7m² theo hợp đồng thế chấp quyền sử du ̣ng đất số 341/2021/TC/VCB-ĐT/SĐ
Do trướ c đây ông H4 có vay tiền nhiều lần và luôn trả vốn, lãi đúng quy đi ̣nh. Trong lần vay này ông H4 cũng luôn đảm bảo thanh toán tiền gốc, lãi đầy đủ cho Ngân hàng do đó trong vu ̣ án này phia Ngân há
̀ng không có tranh chấp hay yêu cầu bất cứ gi.̀
Ta ̣i bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2023/DSST ngày 02/6/2023 của Tòa án thành phố S tuyên xử:
Không chấp nhâ ̣n toàn bô ̣ yêu cầu khở i kiê ̣n của anh Nguyễn Anh H.
Xác đi ̣nh ranh giớ i quyền sử du ̣ng đất chung giữa thử a 427, tờ bản đồ số 32, diê ̣n tich 446,8m² do anh Nguyễn Anh H đứ
́ ng tên quyền sử du ̣ng đất và thử a 440, tờ bản đồ số 32, diê ̣n tich 864,7m² do ông Đinh Thái H1 đứ
́ ng tên, đất cùng to ̣a la ̣c ta ̣i khóm T, phường A, thành phố S là đườ ng thẳng kéo từ mốc M1-M6-M27
Ranh đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian xuống lòng đất. Tài sản của bên nào lấn chiếm ranh đất phải tháo dỡ di dời theo quy định của pháp luật. (Có biên bản xem xét thẩm định ngày 08/3/2022, sơ đồ đo đạc ngày 17/02/2023 và 25/5/2023 kèm theo).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Anh H phải chi ̣u 300.000đồng án phi dân sự sơ thẩm. Số
́ tiền ta ̣m ứ ng án phi đá nô ̣̃
p là 300.000đồng theo biên lai số 0000447 ngày 07/12/2021 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ vào án phi phá
̉i nô ̣p.
3. Về chi phi xem xét, thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ, đi ̣nh giá tài sản và đo đa ̣c: Anh
́ Nguyễn Anh H chi ̣u toàn bô ̣ (đã nô ̣p và chi xong).
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và thời hạn theo luật định.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/6/2023 anh Nguyễn Anh H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm xử, anh yêu cầu cấp phúc thẩm xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh.
- Ta ̣i phiên tòa phúc thẩm:
Anh Nguyễn Anh H vẫn giữa yêu cầu kháng cáo.
- Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n Kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của anh Nguyễn Anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
[1] Xét yêu cầu kháng cáo của anh H, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguồn gốc phần đất của anh H đang quản lý sử du ̣ng là của ông Nguyễn Văn N (ông N được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất vào ngày 31/5/2008, tại thử a 48, tờ bản đồ 32, diê ̣n tich 770,4m²) sau đó ông làm thủ tục tă ̣́
ng cho vợ chồng anh Nguyễn Văn Đ, chị Nguyễn Thị Hồng T4 vào tháng 11/2008. Đến năm 2012 vợ chồng ông Đ chuy
ển nhượng la ̣i cho ông Trương Vĩnh T1. Đến năm 2013 thi ông T1̀ chuyển nhượng la ̣i cho bà Châu Thị S. Năm 2017, bà S chuyển nhượng mô ̣t phần diê ̣n tich cho ngướ
̀ i khác, phần diê ̣n tich có
̀n la ̣i 446,8m² bà S được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n tại thửa 427, tờ bản đồ 32. Đến ngày 20/8/2020 thi bà ̀ S chuyển nhượng toàn bô ̣ thử a 427 cho anh H.
Nguồn gốc phần đất của ông Đinh Thái H1 đang quản lý sử du ̣ng là của hộ ông Đinh Thái H3 nhâ ̣n chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất thuộc thử a 737 và thửa 5116, cùng tờ bản đồ số 01 của ông Nguyễn Văn N1 vào năm 2004. Đến năm 2012, hô ̣ ông H3 tiến hành đi kê khai, đăng ký và được cấp giấy theo bản đồ chinh quy thá
̀nh thửa 53, tờ bản đồ 32. Đến năm 2012, những người trong hộ gia đinh thồ
́ng nhất tă ̣ng cho bà Trần Thị T là me ̣ ruô ̣t của ông H1 được đứng tên và cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất vào ngày 06/7/2012 thuộc thử a 53, tờ bản đồ 32, diê ̣n tich 1.152,7m². Đến ngá
̀y 30/6/2017 bà T làm thủ tục tă ̣ng cho lại ông H1 được đứng tên. Đến ngày 25/10/2017, ông H1 tă ̣ng cho mô ̣t phần diê ̣n tich 288m2 cho ông Đinh Văn Đ1, diê ̣́
n tich có
̀n la ̣i 864,7m².
[2] Thửa đất số 440 của ông H1 và thửa đất 427 của anh H cùng tờ bản đồ số 32 tiếp giáp với nhau. Thửa đất 427 của ông H nhận chuyển nhượng của bà Châu Thị S vào năm 2020 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ chính quy đảm bảo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình chuyển nhượng không có đo đạc thực tế, mà chỉ điều chỉnh chủ sử dụng được đứng tên quyền sử dụng đất. Còn thửa đất 440 của ông H1 có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ năm 2003 do mẹ ông H1 là bà Trần Thị T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó tặng cho lại ông H1 vào năm 2017 đảm bảo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình quản lý, sử dụng ông H1 tặng cho lại ông Đinh Văn Đ1 diện tích 288m2, phần diện tích đất còn lại 864,7m2.
Căn cứ vào trích lục bản đồ do Cơ quan quản lý đất đai cung cấp thì thửa đất số 427 của anh H và thửa đất số 440 của ông H1 tiếp giáp với nhau thể hiện là một đường thẳng, như vậy ranh giới đất giữa hai bên không thể là một đường cong như yêu cầu của anh H. Vị trí đất ông H1 tách thửa tặng cho ông Đinh Văn Đ1 cũng không tiếp giáp với đất anh H, phần đất ông H1 cũng được cấp theo bản đồ chính quy, ông H1 quản lý, sử dụng ổn định phần đất của mình trước, còn anh H chỉ là người nhận chuyển nhượng lại từ năm 2020, vì vậy anh H yêu cầu xác định ranh đất với ông H1 gồm các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7 án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của anh mà giữ nguyên hiện trạng và xác định ranh giới giữa thửa đất số 427 của anh H và thửa đất số 440 của ông H1 là đường thẳng nối các mốc Ml - M6 - M27 theo sơ đồ đo đạc ngày 25/5/2023 là phù hợp với quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên, xét yêu cầu kháng cáo của anh H là không có căn cứ để chấp nhận, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên anh H phải chịu 300.000đ án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[3] Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xét đề nghi ̣ của đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhâ ̣n.
Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 175; Điều 176 Bộ luật dân sự 2015; Điều 175 Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của anh Nguyễn Anh H.
2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 15/2023/DSST ngày 02/6/2023 của Tòa án thành phố S.
3. Không chấp nhâ ̣n toàn bô ̣ yêu cầu khở i kiê ̣n của anh Nguyễn Anh H.
- Xác đi ̣nh ranh giớ i quyền sử du ̣ng đất giữa thử a đất số 427, tờ bản đồ số 32, do anh Nguyễn Anh H đứ ng tên quyền sử du ̣ng đất và thử a 440, tờ bản đồ số 32, do ông Đinh Thái H1 đứ ng tên, đất cùng to ̣a la ̣c ta ̣i khóm T, phường A, thành phố S là đườ ng thẳng kéo từ mốc M1-M6-M27.
Ranh đất được xác định theo chiều thẳng đứng từ không gian xuống lòng đất. Tài sản của bên nào lấn chiếm ranh đất phải tháo dỡ di dời theo quy định của pháp luật. (Có biên bản xem xét thẩm định ngày 08/3/2022, sơ đồ đo đạc ngày 17/02/2023 và 25/5/2023 kèm theo).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Anh H phải chi ̣u 300.000đồng án phi dân sự sơ thẩm. Số
́ tiền ta ̣m ứ ng án phi đá nô ̣̃
p là 300.000đồng theo biên lai số 0000447 ngày 07/12/2021 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ vào án phi phá
̉i nô ̣p.
5. Về chi phi xem xét, thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ, đi ̣nh giá tài sản và đo đa ̣c: Anh
́ Nguyễn Anh H chi ̣u toàn bô ̣ (đã nô ̣p và chi xong).
6. Án phi phúc thẩm:
́
- Anh Nguyễn Anh H phải chi ̣u 300.000đ tiền án phí phúc thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí kháng cáo theo biên lai thu số 0003025, ngày 20/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S (anh H đã nộp xong).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. S; - TAND TP. S; - Phòng KTNV- TAND tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Phước Hội |