vanban.org

Bản án 515/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 19/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín, trong chứa ma túy tổng hợp (Methamphetamin), ghi thu giữ vật chứng của Đặng H hiện có tại kho vật chứng của Chi cục …

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và bsử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng H phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín, trong chứa ma túy tổng hợp (Methamphetamin), ghi thu giữ vật chứng của Đặng H hiện có tại kho vật chứng của Chi cục …
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 515/2018/HS-ST
Ngày 19 tháng 11 năm 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thanh Hương. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Phượng và bà Phạm Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Mỵ Nương, kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 516/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 753/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2018 đối với:

Bị cáo Đặng H, sinh ngày 09/02/1985 tại thành phố V, tỉnh N. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khối 6, phường B, thành phố V, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Đặng H (đã chết) và con bà: Đặng Thị H; Vợ: Dương Thị H, có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2018. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28/7/2018 Đặng H bắt xe lai đi từ nhà đến khu vực bến xe Vinh cũ trên đường L, thành phố V, Nghệ An thì gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) và hỏi "Bác có biết chỗ nào bán ma túy không, lấy cho em 300.000 đồng". Người đàn ông đó đồng ý và nói H trả thêm 50.000 đồng tiền công. H đưa 350.000 đồng cho người đàn ông. Người đàn ông cầm tiền và đi khoảng 10 phút sau quay lại, chỉ cho H đến gốc cây phía trong ngõ khoảng 50m, có gói ni lông. H đi đến gốc cây, cầm gói ni lông lên thấy bên trong có chất ma túy đá, H bỏ ma túy đá vào trong túi quần bên trái phía trước đi về. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, Hồ Mạnh C, sinh năm 1991, trú tại xóm Khánh Hậu, xã Hưng Hòa, thành phố Vinh) nhờ H chở đến nhà bạn lấy xe máy nên H đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Biển kiểm soát 37B2-880.57 (Chiếc xe là của chị Dương Thị H) chở Hồ Mạnh C đi. Đến số 75, đường Bạch Liêu thuộc khối 6, phường B, thành phố V, tỉnh N thì bị lực lượng cảnh sát cơ động phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Nghệ An kiểm tra phát hiện và thu giữ trong túi quần bên trái phía trước H đang mặc có 01 (một) gói ma túy đá. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh Nghệ An lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Ngày 29/7/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vinh tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và ra quyết định trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 982/KL-PC54(MT) ngày 02 tháng 8 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đặng H gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đặng H có khối lượng là 0,305 gam.

Cáo trạng số 532/CT-VKS ngày 29/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố để xét xử Đặng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh phát biểu quan điểm về vụ án, giữ nguyên tội danh đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Đặng H từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ. Chiếc xe máy YAMAHA, Biển kiểm soát 37B2-880.57 là xe của chị Dương Thị H không liên quan đến việc phạm tội cơ quan điều tra không thu giữ nên không xem xét; áp dụng điều 135, 136 BLTTHS, điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.

Tại phiên tòa, bị cáo H đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Đặng H thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 28/7/2018, tại khu vực số 75 đường Bạch Liêu thuộc khối 6, phường B, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Đặng H có hành vi cất giấu 01 (một) gói ma túy tổng hợp (Methamphetamin) có khối lượng 0,305 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Số ma túy này bị cáo H mua của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 350.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo phạm vào loại tội nghiêm trọng, hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước về ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi cất dấu ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu bản lĩnh, không làm chủ được bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết giảm nhẹ thấy rằng trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như mức đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cần chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo lao động tự do thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Số ma tuý thu giữ là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Biển kiểm soát 37B2-880.57 thuộc sở H của chị Dương Thị H không liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra không thu giữ nên Hội đồng xét xử miễn xét.

. Đối với người đàn ông mua hộ ma túy cho bị cáo do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với Anh Hồ Mạnh C là người nhờ Đặng H chở đi lấy xe máy. Anh Cường không biết việc H tàng trữ trái phép chất ma túy do vậy anh Cường không phạm tội.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/7/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín, trong chứa ma túy tổng hợp (Methamphetamin), ghi thu giữ vật chứng của Đặng H hiện có tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho vật chứng số NK 36 ngày 30/10/2018;

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và bsử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng H phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo Đặng H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ