- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 256 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!H! Bản án số: 513/2020/HS-PT Ngày 30 - 9 - 2020 |
!
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!H!
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa:"Bà Nguyễn Thị Hà!
Các"Thẩm"phán:" 1. Bà Đoàn Thị Hương Giang
2. Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
- Thư ký phiên tòa:" Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa:
Bà Trần Nguyễn Phương Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 399/2020/TLPT-HS ngày
09/9/2020 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình
sự sơ thẩm số152/2020/HS-ST ngày 29/7/2020 của Tòa án nhân dân quận B,
Thành phố H.
Bị"cáo"có"kháng"cáo:!
Lê!Văn!T; Sinh năm 1980 tại tỉnh Đ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:
ấp A, xã Hội An Đ, huyện L, tỉnh Đ; Chỗ ở: 273 Bình L, phường B, quận B,
Thành phố H; Nghề nghiệp: Quản lý nhà nghỉ; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân
tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông
Lê Văn Ngn và bà Nguyễn Thị T (chết); Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên
Chung Bội H và 02 con; lớn sinh năm 2016 và nhỏ sinh năm 2018; Tiền án:
Không, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày: 30/10/2019; Ngày bị tạm giữ: 30/10/2019; Ngày bị
tạm giam: 05/11/2019 (Có mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 30/10/2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về
ma túy Công an quận B phối hợp cùng Công an phường B, quận B kiểm tra
hành chính nhà nghỉ Thu Hà địa chỉ số 273 Bình L, phường B, quận B,
Thành phố H do Lê Văn T làm quản lý. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ 03 gói nilon chứa tinh thể không màu để trong chén bằng kim loại trong tủ chén phòng ngủ của T và 02 gói nilon chứa tinh thể không màu trong hộp nhựa màu hồng để dưới hộc tủ tại quầy lễ tân. T khai nhận đây là ma túy nên lực lượng chức năng đưa người và vật chứng về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan Công an tiếp tục kiểm tra hành chính phòng 301 tại nhà nghỉ
Thu Hà do Phan Thanh Tú, Trần Văn Nhớ (sinh ngày 10/02/2004), Nguyễn Toàn Quốc (sinh ngày 29/6/2004), Bùi Văn Dương đang lưu trú. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ trong phòng 01 bình nhựa có gắn 01 ống thủy tinh bên trong còn dính tinh thể màu nâu.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo T đã khai nhận: T là quản lý khách sạn
Thu Hà (do chị Lê Thị Thu Hiền đứng tên kinh doanh). Do muốn kiếm thêm thu nhập nên từ đầu tháng 10/2019 T mua ma túy về rồi phân nhỏ ra để bán lại cho khách đến thuê phòng lưu trú tại Nhà nghỉ Thu Hà khi khách có nhu cầu mua ma túy sử dụng. Khoảng 03 giờ ngày 30/10/2019, T đang ngồi tại quầy lễ tân thì Phan Thanh Tú, Trần Văn Nhớ, Nguyễn Toàn Quốc, Bùi Văn Dương đến thuê phòng tại nhà nghỉ Thu Hà nên T lấy chìa khóa phòng 301 đưa cho Tú và thu tiền phòng trước với giá là 250.000 đồng. Lúc này, Tú có hỏi nhỏ T “anh có đồ không, cho em lấy cái ba” T hiểu ý Tú muốn hỏi có ma túy không bán cho Tú 300.000 đồng nên T nói với Tú là “cứ lên phòng đi khoảng 05 đến 10 phút sau xuống lấy” mục đích là để có thời gian chuẩn bị ma túy. Sau khi lên phòng 301 cùng với Nhớ, Quốc và Dương thì khoảng 10 phút sau Tú đi xuống gặp T rồi đưa 300.000 đồng, T chỉ chỗ để 02 gói ma túy trên kệ quầy lễ tân cho Tú lấy. Sau khi lấy ma túy thì T hỏi Tú có “nỏ” (ống thủy tinh có một đầu tròn dùng để sử dụng ma túy) chưa thì Tú nói chưa và hỏi mua thì T bán cho Tú 01 cái với giá 20.000 đồng. Sau khi Tú lên phòng 301 thì T qua ghế sofa gần quầy lễ tân để ngủ đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, Tú tiếp tục đi xuống gọi T dậy để mua tiếp 300.000 đồng ma túy thì T nhận tiền và chỉ chỗ cho Tú lấy ma túy lên phòng sử dụng tiếp. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày lực lượng Công an kiểm tra hành chính nhà nghỉ Thu Hà thì phát hiện T và các đối tượng như nêu phần trên. T khai số ma túy này T mua của người phụ nữ tên Linh (không rõ lai lịch) trước khi bị bắt khoảng 10 ngày với giá 900.000 đồng, Linh mang ma túy đến khách sạn giao cho T. Việc T cất giấu và mua bán trái phép chất ma túy thì chỉ có một mình T, không có người khác biết.
Tại Cơ quan điều tra Phan Thanh Tú khai nhận: Ngày 22/10/2019 Tú
và Quốc được người bạn tên Quang (không rõ lai lịch) dẫn đến thuê phòng tại nhà nghỉ Thu Hà để nghỉ và sử dụng ma túy, Tú có hỏi Quang mua ma túy của ai thì Quang nói là của ông chủ quản lý nhà nghỉ Thu Hà. Vì vậy, ngày 30/10/2019 sau khi cả nhóm gồm Tú, Nhớ, Quốc và Dương rủ nhau cùng sử dụng ma túy thì Tú dẫn cả nhóm đến nhà nghỉ Thu Hà để thuê phòng nghỉ và sử dụng ma túy. Khi thuê phòng và mua ma túy thì Tú đại diện nhóm giao dịch với T. Sau khi lên phòng thì Quốc, Nhớ và Dương mỗi người đưa cho Tú 50.000 đồng tiền thuê phòng, đồng thời Quốc đưa cho Tú
150.000 đồng, Nhớ đưa cho Tú 200.000 đồng, Dương đưa cho Tú 100.000
đồng và Tú bỏ ra 170.000 đồng để mua ma túy và ống thủy tinh cho cả
nhóm sử dụng. Tú mua ma túy của T 02 lần, lần 01 là khoảng 3 giờ 15 phút
ngày 30/10/2019 Tú mua với giá 300.000 đồng và nỏ sử dụng giá 20.000
đồng, sau khi cả nhóm sử dụng hết thì 04 giờ 30 phút cùng ngày Tú tiếp tục
xuống gặp T mua ma túy lần 02 với giá 300.000 đồng. Khoảng 07 giờ ngày
30/10/2019, trong lúc cả nhóm đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an
vào kiểm tra phát hiện và thu giữ trong phòng 01 bình nhựa gắn ống thủy
tinh bên trong còn dính ít ma túy chưa sử dụng hết. Lời khai của Tú phù hợp
với lời khai của T, Nhớ, Quốc và Dương.
Quá trình điều tra bị cáo T thay đổi lời khai cho rằng ban đầu trong
quá trình điều tra T khai nhận biết việc nhóm của Tú đến thuê phòng nghỉ và
sử dụng ma túy trong phòng 301 do khi vừa đến thuê thì Tú đã hỏi mua ma
túy liền và T có bán thêm 01 nỏ để sử dụng, tuy nhiên sau đó T thay đổi lời
khai không biết việc nhóm của Tú sử dụng ma túy trong phòng. Tuy nhiên,
căn cứ vào lời khai của Phan Thanh Tú, Bùi Văn Dương, Nguyễn Toàn
Quốc, Trần Văn Nhớ, lời khai ban đầu của T, vật chứng, cùng các tài liệu
chứng cứ khác có đủ cơ sở xác định T đã có hành vi chứa chấp việc sử dụng
trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ:
- 05 gói nilon bên trong chứa tinh thể không màu.
- 01 ống thủy tinh có đầu tròn bên trong có dính tinh thể màu nâu.
- 01 chén bằng kim loại.
- 01 hộp nhựa màu hồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số thuê bao 0935159337 bị
can dùng liên lạc với gia đình.
- 10 ống thủy tinh có một đầu tròn.
- Số tiền 600.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 2028/KLGĐ-H ngày 07/11/2019 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu
chứa trong 05 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Lê Văn
T, điều tra viên và hình dấu Công an phường B, quận B là ma túy ở thể rắn,
có tổng khối lượng 2,8402 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản Kết luận giám định số 2026/KLGĐ-H ngày 07/11/2019 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể màu nâu
dính trong 01 ống thủy tinh có đầu tròn được niêm phong bên ngoài có chữ
ký của Nguyễn Toàn Quốc, Trần Văn Nhớ, Phan Thanh Tú, Bùi Văn Dương,
Trần Văn Thái (điều tra viên), Hạp Tiến Ngưỡng (người chứng kiến) và hình
dấu Công an phường B, quận B là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0272
gam, loại Methamphetamine.
Tại các biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 30/10/2019 tại Công an
phường B A, quận B xác định Phan Thanh Tú, Bùi Văn Dương, Nguyễn
Toàn Quốc, Trần Văn Nhớ đều dương tính với ma túy.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 152/2020/HS-ST ngày 29/7/2020 của Tòa án
nhân dân quận B, Thành phố H đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm c, d khoản 2 Điều 256;
điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Phạt bị cáo Lê Văn T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất
ma túy” và 09 (chín) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội danh xử phạt bị cáo 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/10/2019
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và
quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội phù
hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hai cha đã già, 02 con nhỏ và vợ không có công việc ổn định, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tại phiên tòa phúc thẩm:
Giữ nguyên quyết định truy tố và yêu cầu chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mà chưa được cấp sơ thẩm xem xét như: hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cha bị cáo trên 80 tuổi, hai con còn nhỏ, vợ bị cáo không có công việc ổn định nên bị cáo là lao động chính trong gia đình, khối lượng ma túy bị cáo mua bán là 2,4802g Methamphetamine nên xem xét áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội danh xử phạt bị cáo 15 năm tù. !
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.!
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,
Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra và và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T thừa nhận
toàn bộ hành vi phạm tội cụ thể: khoảng 03 giờ 15 phút và 04 giờ 30 phút
ngày 30/10/2019 tại nhà nghỉ Thu Hà; địa chỉ số 273 Bình Long, phường B,
quận B, TP.H do bị cáo Lê Văn T quản lý. Bị cáo T đã có hành vi 02 lần bán
ma túy cho Phan Thanh Tú đồng thời sử dụng địa điểm do mình quản lý để
cho Phan Thanh Tú, Bùi Văn Dương, Trần Văn Nhớ (sinh ngày
10/02/2004), Nguyễn Toàn Quốc (sinh ngày 29/6/2004) sử dụng trái phép
chất ma túy
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Lê Văn T về tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất
ma túy” được qui định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm c, d khoản 2
Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 là đúng người,
đúng tội, không oan sai.
Và khi lượng hình cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị
cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo
phạm tội lần đầu để xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Và, tại phiên tòa phúc thẩm tòa xem xét
thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ là còn nuôi 02 con nhỏ và là lao động
chính trong gia đình để áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm
nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo có điều kiện phụ giúp gia đình.
Do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo Lê Văn T.
[4] Về án phí đối với bị cáo: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
Vì các lẽ trên,
!QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T; Sửa bản án hình sự sơ thẩm
số 152/2020/HS-ST ngày 29/7/2020 của Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm c, d khoản 2 Điều 256;
điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 55 Bộ luật Hình sự năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Phạt bị cáo Lê Văn T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất
ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất
ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội danh xử phạt bị cáo 15 (mười
lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/10/2019.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận:!! ! !!!!!!! - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại Tp. HCM (1) - VKSND TP. HCM; (3) - VKSND cấp cao tại Tp. HCM; (1) - VKSND quận B; (1) - P. PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (2) - Chi Cục THA quận B ; (1) - TAND quận B; (2) - Công an quận B; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: THS, hồ sơ, VT (22). (6) ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM! !THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TOẠ!PHIÊN!TOÀ!! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Nguyễn!Thị!Hà! |