- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Kim L - Chang C I"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim L được ly hôn với ông Chang C I.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 510/2018/HNGĐ-ST Ngày: 26/4/2018 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Cao
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:
1. Bà Lê Thị Nhanh
2. Ông Nguyễn Thành Thông
-"Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Toàn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 275/2016/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2016 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1470/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:
1."Nguyên"đơn:"Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: 5/5 đường B, Phường U, Quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh.
2. Bị"đơn: Ông Chang C I, sinh năm 1939 (vắng mặt)
Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan)
Địa chỉ: Kuanghsin Li Hsin Tien Taipei Hsien.
Bà Trần Thị Kim L đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 17/6/2016 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Trần Thị Kim L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Chang C I quen biết qua một người bạn vào năm 2000. Sau quá trình tìm hiểu thì bà và Chang C I tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 2404, quyển số 13 ngày 28/6/2001 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn thì bà có qua Đài Loan chung sống với ông Chang C I được chín tháng thì quay về Việt Nam. Bà có quay lại Đài Loan một tuần nhưng đến năm 2003 thì về Việt Nam luôn và không còn liên lạc với ông Chang C I cho đến nay. Bà và ông Chang C I không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Chang C I. Do bận việc, bà đề nghị được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Bị đơn là ông Chang C I, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo ngày giờ và địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu ông Chang C I có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc bà Trần Thị Kim L khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo công văn ủy thác tư pháp số 998/UTTPDS-TA ngày 08/9/2016). Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có công văn đề nghị Bộ Tư pháp lãnh thổ Đài Loan thực hiện các công việc cần thiết để thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định. Đến ngày mở phiên tòa như đã định tại thông báo gửi đương sự, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và bị đơn vắng mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Tòa án đã có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Chang C I (Công văn số 4702/TATP-TGĐVNCTN ngày 05/12/2017) nhưng đến nay vẫn không có kết quả. Để đảm bảo việc xét xử theo đúng hạn luật định và bảo đảm quyền lợi của đương sự khác, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét yêu cầu của nguyên đơn Trần Thị Kim L, Hội đồng xét xử nhận thấy bà L và ông Chang C I kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn Chang C I hiện đang cư trú tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai, thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu của bà Trần Thị Kim L yêu cầu ly hôn ông Chang C I, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà L (bà L cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời khai của bà) thì bà và ông Chang C I chung sống không hạnh phúc. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà L và ông Chang C I không có quá trình chung sống lâu dài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Từ năm 2003 đến nay hai vợ chồng không còn chung sống và liên lạc với nhau nữa. Hiện nay bà L và ông Chang C I đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà L yêu cầu ly hôn với ông Chang C I là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà Liên ly hôn với ông Chang Chung I là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với bị đơn là ông Chang C I hiện đang định cư tại Đài Loan, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định yêu cầu ông Chang C I có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án về trường hợp xin ly hôn của nguyên đơn nhưng ông Chang C I không có ý kiến phản hồi.
Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Trần Thị Kim L khai không có, Tòa án không xem xét.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 200.000 đồng, bà L chịu.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, khoản 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim L được ly hôn với ông Chang C I.
Giấy chứng nhận kết hôn số 2404, Quyển số 13 ngày 28/6/2001 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Kim L và ông Chang C I không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung, về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Trần Thị Kim L khai không có, Tòa không xét.
3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 200.000 đồng, bà Trần Thị Kim L chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng mà bà L đã đóng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số AE/2011/02996 ngày 23/6/2016 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.
4. Bà Trần Thị Kim L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Chang C I được quyền kháng cáo trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP. HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND TP. HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Cao |