vanban.org

Bản án 51

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lương Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
Tßa ¸n nh©n d©n
QuËn Thanh xu©n
Thµnh phè Hµ Néi
-------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 51/2018/ HS-ST
Ngµy: 17/5/2018

Nh©n danh

N íc céng hßa x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam

Tßa ¸n nh©n d©n QuËn Thanh Xu©n

Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phƣơng Thảo

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Tuyết

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hƣơng- Cán bộ Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thủy- Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 17 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2018/TLST-HS ngày 10.4.2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lƣơng Văn H; Sinh ngày 03 tháng 8 năm: 1962 tại: Hà Nội; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 23 ngõ 95 phố B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: số 23 ngõ 95 phố B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 5/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Lương Văn P (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị T; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1965; có 02 con. Con nhỏ sinh năm 1991, con lớn sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Bị cáo nhiều lần bị xử lý vi phạm hành chính đã hết thời hiệu và 5 lần bị kết án đã xóa, cụ thể:

- Ngày 02.3.1994, Hội đồng xét xử phúc thẩm- Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (tài sản trộm cắp trị giá 800.000 đồng).

- Ngày 17.01.1996, Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (tài sản trộm cắp trị giá 1.000.000 đồng).

- Ngày 26.11.1997, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (tài sản trộm cắp trên 2.000.000 đồng, hiện đã xóa án).

- Ngày 28.02.2003, Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp trên 2.000.000 đồng, hiện đã xóa án).

- Ngày 13.7.2006, Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (ra trại tháng 1.2013; nộp án phí ngày 09.06.2017, hiện đã xóa án).

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tam giam từ 28 tháng 12 năm 2017 tại Trạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

a) Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 28.12.2017, tổ công tác công an phường H, quận T, Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực trước cửa số nhà 140 ngõ 475/20 N, phường H, quận T, thành phố Hà Nội phát hiện Lương Văn H đang điều khiển 01 xe máy kiểu dáng Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 29K8-1513, số khung: RRVWCH3RV5A001106, số máy: VSAZS152FMH002106 có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu H dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, H đã vứt 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 4x4 cm bên trong có 02 gói giấy bạc màu vàng kích thước 0,8x1 cm bên trong chứa bột màu trắng xuống dưới đất cách H khoảng 01m. Sau đó, H tự giác nhặt gói nilon trên giao nộp cho tổ công tác, đồng thời khai nhận đó là ma túy heroine. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật, biên bản bắt người phạm tội quả tang. Đồng thời đưa H về trụ sở điều tra để làm rõ.

Cơ quan công an đã thu giữ của Lương Văn H gồm: 01 xe máy kiểu dáng Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 29K8-1513, số khung: RRVWCH3RV5A001106, số máy: VSAZS152FMH002106; 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 4x4 cm bên trong có 02 gói giấy bạc màu vàng kích thước 0,8x1 cm bên trong chứa bột màu trắng.

Tại cơ quan điều tra, Lương Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28.12.2017, H điều khiển xe máy kiểu dáng Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 29K8-1513, số khung: RRVWCH3RV5A001106, số máy: VSAZS152FMH002106 đến số nhà 103 ngõ 475/20 N, phường H, quận T, thành phố Hà Nội với mục đích mua ma túy heroine về để sử dụng. Khi đến nơi, qua ô cửa, H nói với người phụ nữ tên “Nghêu” (hiện không xác định được) ở trong nhà là “bán cho 200.000 đồng”, người phụ nữ trên đồng ý và đưa qua ô cửa nhà 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 4x4 cm bên trong có 02 gói giấy bạc màu vàng kích thước 0,8x1 cm bên trong chứa bột màu trắng rồi H đưa 200.000 đồng qua ô cửa nhà cho người phụ nữ. Sau khi mua xong, H cầm số ma túy heroine trên vào lòng bàn tay trái để đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến số nhà 140 ngõ 475/20 N, phường H, quận T, thành phố Hà Nội thì tổ công tác công an phường H, quận T, thành phố Hà Nội bắt giữ cùng toàn bộ tang vật.

Tại bản kết luận giám định số 67/KLGĐ-PC54 ngày 08.01.2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội đã kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy bạc màu vàng trong 01 túi nilon đều là ma túy heroine, trọng lượng 0,170 gam.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Lương Văn H đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật và đề ngị được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

b) Về các vấn đề khác của vụ án:

Nguồn ma túy thu giữ, Lương Văn H khai mua của một người phụ nữ tên “Nghêu” tại số nhà 103/475/20 đường N, quận T, thành phố Hà Nội nhưng không biết rõ tên, tuổi và không biết mặt nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với 01 chiếc xe máy kiểu dáng Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 29K8-1513, số khung: RRVWCH3RV5A001106, số máy: VSAZS152FMH002106, Lương Văn H khai mua của một người bạn người bạn ngoài xã hội tên Tuấn (hiện không xác định được) nhưng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu nên cơ quan cảnh sát điều tra, công an quận T đã tiến hành đăng báo để tìm chủ sở hữu.

Đối với chiếc Biển kiểm soát: 29K8-1513, qua điều tra xác định là biển kiểm soát của xe máy có số khung: 00763, số máy: 99012395 có tên chủ sở hữu Đỗ Thị Hoài Điệp. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân của Điệp.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 02.4.2018, Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội đã truy tố Lương Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo Lương Văn H khai: Ngày 28.12.2017, bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy đá để sử dụng tại trước số nhà 140 ngõ 475/20 N, phường H, quận T, thành phố Hà Nội thì bị công an bắt quả tang. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ®Ó cho bÞ c¸o ® îc h ëng møc ¸n nhÑ nhÊt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lương Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: xử phạt bị cáo Lương Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015; áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: tịch thu tiêu hủy 0,170 gam heroine và 01 biển kiểm soát 29K8-1513; sau khi hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày đăng báo nếu không xác định được chủ sở hữu, tịch thu xung công quỹ 01 chiếc xe máy kiểu dáng Wave, màu đỏ, số khung: RRVWCH3RV5A001106, số máy: VSAZS152FMH002106.

C¨n cø vµo c¸c tµi liÖu chøng cø ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn…

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biªn b¶n t¹m gi÷ ®å vËt tµi liÖu; Lời khai người làm chứng, Bản kết luận giám định... cã ®ñ c¬ së kh¼ng ®Þnh:

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 28.12.2017, Lương Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,170 gam heroine tại trước cửa số nhà 140 ngõ 475/20 N, phường H, quận T, thành phố Hà Nội với mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì tổ công tác công an phường H, quận T, thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ ở đó kiểm tra bắt giữ cùng toàn bộ tang vật.

Hành vi của bị cáo Lương Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249, khoản 1, điểm c của Bộ luật hình sự 2015.

Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trong xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bởi vì, ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của nó nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện vào ngày 28.12.2017. Khi xét xử, hành vi của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Do vậy áp dụng khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc hội để quyết định hình phạt có lợi cho bị cáo.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, cũng giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 chiếc xe máy kiểu dáng Wave, màu đỏ, số khung: RRVWCH3RV5A001106, số máy: VSAZS152FMH002106; 01 Biển kiểm soát: 29K8-1513 và 0,170 gam heroine.

Đối với 01 chiếc xe máy kiểu dáng Wave, màu đỏ, số khung: RRVWCH3RV5A001106, số máy: VSAZS152FMH002106, là phương tiện phạm tội của bị cáo, Lương Văn H khai mua của một người bạn người bạn ngoài xã hội tên T (hiện không xác định được) nhưng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu nên cơ quan cảnh sát điều tra, công an quận T đã tiến hành đăng báo để tìm chủ sở hữu. Do vậy, cần tịch thu xung công quỹ chiếc xe máy sau khi hết thời hạn thông báo tìm chủ sở hữu 3 tháng mà không xác định được chủ sở hữu chiếc xe.

Đối với chiếc Biển kiểm soát: 29K8-1513, qua điều tra xác định là biển kiểm soát của xe máy có số khung: 00763, số máy: 99012395 có tên chủ sở hữu Đỗ Thị Hoài Đ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân của Điệp. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu tiêu hủy 0,170 gam Heroine.

Án phí và quyền kháng cáo:

BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm và có quyền kháng cáo theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh

1. Tuyên bố bị cáo Lương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy”

2- Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106; Điều 135, 136; 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Áp dụng: Điều 249 khoản 1, điểm c; Điều 51 khoản 1 điểm s của Bộ luật hình sự 2015.

- Xử phạt bị cáo Lương Văn H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28.12.2017.

3. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

4. Xử lý vật chứng của vụ án:

Tịch thu xung công quỹ 01 chiếc xe máy kiểu dáng Wave, màu đỏ, số khung: RRVWCH3RV5A001106, số máy: VSAZS152FMH002106, tình trạng xe cũ, không có yếm, vỡ nát đuôi xe, vỡ đầu xe sau khi hết thời hạn thông báo tìm chủ sở hữu 3 tháng mà không xác định được chủ sở hữu chiếc xe.

Tịch thu tiêu hủy chiếc Biển kiểm soát: 29K8-1513.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có chữ ký của đối tượng Lương Văn H và giám định viên Phạm Đình Đạo, bên trong có 0,170 gam ma túy loại Heroine (đã lấy mẫu giám định).

Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận T theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15.5.2018.

6. Án phí và quyền kháng cáo:

- Áp dụng: Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

BÞ c¸o Lương Văn H ph¶i chÞu 200.000 ®ång (Hai tr¨m ngh×n ®ång) ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm vµ cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

¸n xö c«ng khai s¬ thÈm.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ