vanban.org

Bản án 51

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Hoàng A làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thêm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bồ Quốc Khánh

Bà Trần Thị Mộng Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 22/7/1998; tại Hà Nội; nơi cư trú: tổ dân phố N, phường T, thành phố Hà Nội; tạm trú: tổ C, khu phố A, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1978 và bà Trần Thị H, sinh năm 1977; bị cáo có vợ và 01 người con (sinh năm 2025); tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 13/11/2024 đến ngày 22/11/2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1978

- Chủ hộ kinh doanh Văn phòng P; địa chỉ: thửa đất 1088, tờ bản đồ số 4, tổ C, khu phố A, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Nguyễn Anh T là chủ Chủ hộ kinh doanh Văn phòng P tại phường V, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T không trực tiếp kinh doanh mà giao cho con là bị cáo Nguyễn Hoàng A trực tiếp quản lý, kinh doanh. Khoảng 14 giờ 00 ngày 13/11/2024, một người thanh niên (không rõ nhân thân) đến tiệm Photocopy Minh A1 gặp bị cáo Hoàng A và hỏi “Anh có nhận làm hồ sơ xin việc không”, bị cáo Hoàng A trả lời “có” với giá 300.000 đồng. Sau đó, người thanh niên kết bạn zalo và gửi hình ảnh căn cước công dân tên Vàng Thị D cho bị cáo qua zalo. Bị cáo A liên hệ với Z tên “Nhật Linh” (không rõ nhân thân) để nhờ làm hồ sơ giả thì người này đồng ý. Bị cáo A mở máy tính in thông tin của người cần làm hồ sơ giả gồm: sơ yếu lý lịch, giấy khám sức khỏe, xác nhận hạnh kiểm, đơn xin việc, giấy xác nhận thông tin về cư trú. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì người thanh niên mà bị cáo A liên lạc nhờ làm hồ sơ giả đến lấy những tài liệu trên. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì người này đến đưa lại những tài liệu trên có chữ ký đóng mộc sẵn. Bị cáo Anh để trên tủ chờ khách đến lấy. Đến khoảng 16 giờ 00 cùng ngày thì Công an phường V, thành phố T kiểm tra, phát hiện bắt giữ và đưa bị cáo Nguyễn Hoàng A về trụ sở Công an phường V làm việc và chuyển giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Công an phường V, thành phố T đã thu giữ:

- 01 bìa hồ sơ bằng giấy màu xanh dương đề tên “HỒ SƠ”

- 01 (Một) giấy xác nhận thông tin về cư trú số 002201/XN ngày 12/11/2024 đề tên Vàng Thị D trên đó có 01 hình mộc dấu đỏ của Công an phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- 01 (Một) xác nhận hạnh kiểm có dán 01 tấm ảnh màu trên đó in 02 hình mộc dấu của Công an phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- 02 (Hai) Sơ yếu lý lịch có dán 01 tấm ảnh màu trên đó in 03 hình mộc dấu đỏ của UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- 01 (Một) Đơn xin việc có dán 01 tấm ảnh màu trên đó in 03 hình mộc dấu đỏ của UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- 01 (Một) giấy khám sức khỏe có dán 01 tấm ảnh màu trên đó in 02 hình mộc dấu đỏ ở giữa mộc đề “CHI NHÁNH CÔNG TY CP BỆNH VIỆN ĐA KHOA AN PHƯỚC SÀI GÒN II, viền mộc đề “M.S.C.N: 3702279781 - 001 - C.T.C.P, T.X TÂN UYÊN - T.BÌNH DƯƠNG”.

- 01 (một) điện thoại hiệu IPHONE 13 Promax, số Emei1: 354106777150324

- 01 máy in màu nhãn hiệu EPSON, số loại model B412C;

- 01 bàn phím máy tính màu trắng, nhãn hiệu ZIYOULANG;

- 01 màn hình máy tính màu đen, nhãn hiệu VSP, số loại model VL24 ;

- 01 con chuột máy tính màu đỏ nhãn hiệu Aattack Shark, X11;

Tại Kết luận giám định số 5391 ngày 18/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận như sau:

Hình dấu tròn có nội dung “* U.B.N.D PHƯỜNG CHÁNH NGHĨA T.P THỦ DẦU MỘT T. BÌNH DƯƠNG” và “* CÔNG AN PHƯỜNG CHÁNH NGHĨA * CÔNG AN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT - T. BÌNH DƯƠNG” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A5) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M1 và M2) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Tại Kết luận giám định số 127 ngày 16/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận như sau:

Hình dấu tròn có nội dung “* M.S.C.N: 3702279781- 001 - C.T.C.P * T.X TÂN UYÊN - T. BÌNH DƯƠNG CHI NHÁNH CÔNG TY CP B PHƯỚC SÀI GÒN II” trên “Giấy khám sức khoẻ” có dán ảnh, không có thông tin, không đề ngày, tháng, năm (ký hiệu A) so với hình dấu tròn có nội dung “* M.S.C.N: 3702279781- 001 - C.T.C.P * TP. TÂN UYÊN T. BÌNH DƯỠNG CHI NHÁNH II - CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN ĐA KHOA AN PHƯỚC - SÀI GÒN” và “* M.S.CN: 3702279781- 001 - C.T.C.P * TX. TÂN UYÊN - T. BÌNH DƯƠNG CHI NHÁNH II CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN ĐA KHOA AN PHƯỚC - SÀI GÒN” trên 02 (hai) “Biên bản thu mẫu giám định”, đề ngày 19/11/2024, 11/12/2024 (ký hiệu M1 và M2) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Đối với những người làm hồ sơ xin việc giả không rõ nhân thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân của những người làm hồ sơ xin việc làm giả nên sẽ tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

Đối với người tên Vàng Thị D là người đứng tên tài liệu giả do Cơ quan Công an thu giữ, qua xác minh làm việc với Vàng Thị D xác nhận không sử dụng tài liệu và tên của mình để làm hồ sơ xin việc giả nên không xem xét xử lý.

Đối với người thanh niên đã nhận hồ sơ từ bị cáo A để đi làm giả. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân nên sẽ tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

Đối với 01 điện thoại hiệu IPHONE 13 Promax; 01 máy in màu; 01 bàn phím máy tính; 01 màn hình máy tính; 01 con chuột máy tính là các công cụ, phương tiện của bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Bản Cáo trạng số 33/CT-VKSTU ngày 28/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng A về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Về trách nhiệm hình sự: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo Nguyễn Hoàng A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất ý kiến tranh luận của người bào chữa. Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội tiếp tục lao động chăm sóc cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hoàng A tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của người làm chứng. Căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/11/2024, tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường V, Thành phố Hồ Chí Minh) bị cáo Nguyễn Hoàng A đã có hành vi nhận làm giả 06 tài liệu cho một người thanh niên. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp hoạt động chuyên môn ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền. Về nhận thức bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi cá nhân bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện để bị cáo trở thành người dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của UBND phường V nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Trường hợp của bị cáo đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, nên không cần thiết buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với những người phạm tội lần đầu, biết ăn năn hối cải, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội.

Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp nhận định của Hồi đồng xét xử.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Điện thoại điện di động, máy in, bộ máy tính bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho UBND phường V, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:

- 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 13 Promax, số E: 354106777150324;

- 01 máy in màu nhãn hiệu EPSON, số loại model B412C;

- 01 bàn phím máy tính màu trắng, nhãn hiệu ZIYOULANG;

- 01 màn hình máy tính màu đen, nhãn hiệu VSP, số loại model VL24;

- 01 con chuột máy tính màu đỏ nhãn hiệu Aattack Shark, X11.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 8 năm 2025 Tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ