vanban.org

Bản án 51/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 30/12/2025. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội 14, m…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2026/HS-ST
Ngày 25/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Văn Dinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Khải.

2. Bà Nguyễn Thị Phương.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2, Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Điện Biên tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2026/HSST ngày 12 tháng 02 năm 2026. Theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 67/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Quàng Văn T (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác) - Sinh năm: 1994. Tại tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản H, xã T, tỉnh Đ.

Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn Định và bà Lò Thị Pọm.

Vợ: bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị cơ quan nhà nước nào xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử. Bị bắt tạm giam từ ngày 30/12/2025 đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quàng Văn T là người nghiện ma túy, đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone tại Trạm y tế xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý. Khoảng 12 giờ ngày 11/12/2025, Quàng Văn T một mình đi bộ từ nhà tại bản Hạ, xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên đến khu vực đường bờ mương thuộc bản Nà Ngum, xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 viên Methamphetamine với giá 50.000 đồng. Mua xong, T hỏi xin được bật lửa của người đàn ông đó, sau đó thì người đàn ông đi đâu, làm gì T không biết. Khi đó T nhìn thấy ở cạnh bờ mương có 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 ống điếu tự tạo, T ngồi xuống lấy viên Methamphetamine vừa mua đặt lên giấy bạc, dùng bật lửa hơ đốt phía dưới cho bốc khói lên rồi dùng miệng hút qua ống điếu đến khi viên Methamphetamine tan hết, khoảng 02 phút sau T sử dụng xong. Sau khi sử dụng hết số Methamphetamine trên, T đã vứt mảnh giấy bạc và bật lửa cùng ống điếu tự tạo xuống mương nước cạnh đó rồi đi bộ về nhà.

Ngày 16/12/2025, Công an xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên nhận được đơn tố giác của cán bộ Trạm y tế xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên về việc Quàng Văn T khi đến cơ sở uống Methadone tại Trạm y tế có biểu hiện bất thường, không tỉnh táo, nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 16/12/2025 Công an xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên đã triệu tập T đến trụ sở Cơ quan Công an để làm việc và thu mẫu nước tiểu của Quàng Văn T gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 1199/KL-KTHS ngày 19/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Tìm thấy chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Quàng Văn T gửi giám định: Loại Methamphetamine.

Bị cáo khai số ma túy bị cáo sử dụng bị cáo mua được của 01 người đàn ông dân tộc thái khoảng 35 tuổi, không biết tên, địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSKV2, ngày 11 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên đã truy tố T về tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo T về cả tội danh và điều luật áp dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không có ý kiến gì thay đổi bổ sung, bị cáo xin được miễn án phí, lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Quàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với, bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Ngày 11/12/2025, tại khu vực đường bờ mương thuộc bản Nà Ngum, xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên, bị cáo đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine, bị cáo sử dụng ma túy đang trong thời gian điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng chống ma túy. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điện Biên theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Điều 256a Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a, Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”.

[2] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thừa nhận rằng khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ sử dụng ma túy, gây tổn hại cho sức khỏe của con người cả về thể xác và tinh thần. Chính quyền địa phương cũng như trên thông tin đại chúng luôn tuyên truyền về tác hại của ma túy đối với cơ thể con người, cũng như chính sách của Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện hút của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

[3] Xét về nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T sinh ra và lớn lên được bố mẹ nuôi dưỡng, đi học hết 7/12 sau đó nghỉ học ở nhà lao động sản xuất phụ giúp gia đình. Bị cáo đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone nhưng bị cáo vẫn sử dụng ma túy, bị cáo tuổi đời còn rất trẻ nhưng không chịu khó lao động sản xuất tu chí làm ăn lương thiện, sống tuân thủ pháp luật, rèn luyện bản thân. Bị cáo chỉ thích chơi bời đua đòi bạn bè lao vào con đường nghiện chất ma túy, mặc dù bản thân đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone, nhưng bị cáo vẫn mua ma túy để sử dụng. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Như vậy đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp cần được xem xét chấp nhận. Từ những phân tích trên, khi quyết định hình phạt HĐXX cần xét, trong cuộc sống việc tuân thủ pháp luật, nhân thân, hành vi mà bị cáo đã thực hiện và ý kiến của bị cáo tại phiên tòa, như vậy cần thiết áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ bị cáo đã gây ra, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tuy nhiên bị cáo là dân tộc thiều số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin miễn án phí nên áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

[5] Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Điều tra viên, Kiểm sát viên, từ khi khởi tố vụ án, quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 30/12/2025.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội 14, miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 25/3/2026.

Cỡ chữ