- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn E1 - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phan Văn E1 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2026/HS-PT Ngày: 06-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Văn Thông
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê
Ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thư Linh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2026/TLPT-HS ngày 24 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo Phan Văn E do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2026/HS-ST ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long.
- Bị cáo có kháng cáo: Phan Văn E1, sinh năm 1977 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long; số định danh cá nhân: 083077013299; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T (đã chết) và bà Đặng Thị B (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Mộng T1 (đã ly hôn); con: có 02 người con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 22/HS-ST ngày 03/8/1996 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long) xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã chấp hành xong hình phạt tù); bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn E là người không có giấy phép lái xe theo quy định; khoảng 05 giờ 10 phút ngày 27/8/2025, Phan Văn E điều khiển xe môtô biển kiểm soát 71Y1 - 0476 lưu thông trên đường Đ theo hướng từ Bệnh viện Đ đến vòng xoay N, khi đến đoạn đường thuộc địa phận Khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long do không chú ý quan sát nên khi Phan Văn E phát hiện chị Võ Thị Ngọc T2 sinh năm 1982, nơi đăng ký thường trú: Số B, Khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long đang đi bộ qua đường từ lề trái sang lề phải theo hướng lưu thông của xe do Phan Văn E điều khiển ở khoảng cách quá gần, và do Phan Văn E để giỏ thịt heo lớn ở phí trước baga cản trở việc đạp phanh nên không phanh, dẫn đến xe mô tô biển kiểm soát 71Y1 - 0476 đụng vào người chị T2 làm chị T2 ngã xuống đường. Hậu quả: chị T2 chấn thương vùng đầu được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ, đến 20 giờ cùng ngày thì tử vong.
* Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ:
- 01 (một) xe môtô, nhãn hiệu GUIDA, màu đỏ biển kiểm soát 71Y1 - 0476, số khung 71Y10476, số máy FMH-007369;
- 01 Giấy đăng ký xe số 000047 tên Phạm Thị Ngọc C;
- 01 đĩa DVD-R Maxell có 02 tập tin dung lượng 12.300KB, 9.720KB do chị Lê Ngọc Thúy U (sinh năm 1993, nơi đăng ký thường trú: Khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long) cung cấp;
- 01 đĩa DVD-R Maxell có 01 tập tin dung lượng 21.852KB do anh Lâm Văn D (sinh năm 1988, nơi đăng ký thường trú: khu phố M, phường B, tỉnh Vĩnh Long) cung cấp.
* Tại Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 27/8/2025 của Bệnh viện Đ xác định nồng độ cồn Ethanol trong máu của Phan Văn E là 1mg/100ml. Ngày 16/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đưa Phan V E đến Bệnh viện Đ để xét nghiệm nồng độ cồn; kết quả nồng độ cồn trong máu của Phan Văn E là 2mg/100ml. Quá trình điều tra xác định trước khi xảy ra tai nạn Phan Văn E không có sử dụng rượu, bia.
* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh V lập ngày 27/8/2025 xác định: Khu vực xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng nằm trên đường Đ, địa phận Khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long, tầm nhìn thông thoáng, không bị che khuất, mặt đường được trải nhựa rộng 8,50mét, bằng phẳng; ở giữa mặt đường có vạch kẻ đường màu vàng đứt quãng, chia mặt đường thành hai phần đường xe chạy riêng biệt; chọn hướng từ Bệnh viện Đ đến vòng xoay N làm hướng cố định; chọn Trụ điện số 1a làm mốc cố định nằm ngoài lề phải, cách tâm vùng mảnh vỡ 1 là 7,90 mét hướng đến vòng xoay N. Biển báo hiệu đường bộ W.224-“Đường người đi bộ cắt ngang” được đặt ngoài lề phải, cách tâm vùng dung dịch màu nâu đỏ là 61,70 mét, hướng đến Bệnh viện Đ. Hướng Bắc là hướng đi Bệnh viện Đ; Hướng Nam là hướng đi vòng xoay N; Hướng Đông tiếp giáp lề đường bên trái; Hướng Tây tiếp giáp lề đường bên phải hiện trường ghi nhận:
- Vị trí số 1: Vùng mãnh vỡ 1, có kích thước (0,30 x 0,20) mét, nằm trên mặt đường ở phần đường bên phải, có tâm cách lề phải là 0,70 mét.
- Vị trí số 2: Vùng dung dịch màu nâu đỏ nghi máu, có kích thước (0,30 x 0,30) mét, nằm trên mặt đường ở phần đường bên phải, có tâm cách lề phải là 2,70 mét và cách tâm vùng mảnh vỡ 1 là 2,60 mét.
- Vị trí số 3: Xe môtô hai bánh biển kiểm soát 71Y1 - 0476, dựng đứng bằng chân chống nghiêng, dọc theo sát lề đường bên phải, đầu xe quay đến hướng vòng xoay N, đuôi xe quay hướng Bệnh viện Đ, có tâm trục bánh trước nằm trên phần đường bên phải, cách lề phải là 0,10 mét; tâm trục bánh sau trùng lề phải và cách tâm vùng mảnh vỡ 1 là 23,40 mét.
- Vị trí số 4: Vùng mãnh vỡ 2, có kích thước (0,35 x 0,20) mét, nằm trên phần đường bên phải, có tâm cách lề phải là 0,50 mét và cách tâm trục bánh trước xe môtô hai bánh biển kiểm soát 71Y1 - 0476 là 0,40 mét.
Kết quả khám phương tiện lập ngày 27/8/2025 xác định xe mô tô biển kiểm soát 71Y1 - 0476 có các dấu vết sau: Cụm đèn chiếu sáng, đèn chuyển hướng bị gãy, rời khỏi vị trí ban đầu; đồng hồ đo tốc độ bị gãy, rời khỏi vị trí ban đầu; mặt nạ xe bị gãy vỡ, móp thụng hướng từ trước ra sau, có kích thước (0,17 x 0,10) mét, điểm thấp nhất cách đất là 0,70 mét; cánh bửng chắn gió bên trái bị bể vỡ, kích thước (0,07 x 0,03) mét, điểm thấp nhất cách mặt đất là 0,69 mét; giảm sóc phía trước bị cong hướng từ trước ra sau; gương chiếu hậu bên trái bị cong hướng từ trước ra sau; không có gương chiếu hậu bên phải; vị trí baga xe có giỏ xách nhựa (loại giỏ đệm), kích thước (0,90 x 0,35) mét.
Bản Kết luận giám định tử thi số 121/KLGĐTT-KTHS-KV2 ngày 05/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh V đối với nguyên nhân tử vong của Võ Thị Ngọc T2: Diện phù nề vùng đỉnh - chẩm phải, kích thước 10cm x 09cm; bên trong có vết thương hình không xác định, bờ mép nham nhở, kích thước 05cm x 02cm; máu loãng chảy ra từ mũi, miệng và tai phải; giập, xuất huyết tổ chức dưới da vùng đỉnh - chẩm phải và cơ thái dương phải; vỡ xương hộp sọ vùng đỉnh - chẩm - thái dương phải, kích thước 08cm x 02cm; sung huyết màng cứng; tụ máu ngoài và dưới màng cứng hai bán cầu đại não; giập nhu mô não thùy thái dương phải; sung, xuất huyết diện cắt não; vỡ nền sọ. Kết luận: Nạn nhân Võ Thị Ngọc T2 chết do chấn thương sọ não gây vỡ xương hộp sọ, xuất huyết, tụ máu nội sọ và giập nhu mô não.
Tại Công văn số 1520/UBND-KT của Ủy ban nhân dân phường A, tỉnh Vĩnh Long xác nhận đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông thuộc Khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long có biển báo W.224 “Đường người đi bộ cắt ngang”.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của nạn nhân Võ Thị Ngọc T2 yêu cầu Phan Văn E bồi thường số tiền 197.000.000 đồng gồm: chi phí mai táng 70.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng nuôi 01 người con của chị T2 tên Võ Thành T3, sinh ngày 28/4/2018 đến 18 tuổi là 127.000.000 đồng. Hiện Phan Văn E đã bồi thường được 107.000.000 đồng gồm: 70.000.000 đồng tiền chi phí mai táng, 37.000.000 đồng tiền cấp dưỡng cho phía bị hại, số tiền còn lại Phan Văn E đồng ý bồi thường nhưng hiện chưa bồi thường; chị Võ Thị Ngọc T4 đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phan Văn E.
Đối với 01 (một) xe môtô nhãn hiệu GUIDA, màu đỏ, biển kiểm soát 71Y1 - 0476, số khung 71Y10476, số máy FMH-007369; 01 (một) Giấy đăng ký xe số 000047 đứng tên bà Phạm Thị Ngọc C. Do xe mô tô biển kiểm soát 71Y1 - 0476 bị cáo mua của người khác chưa làm thủ tục sang tên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.
Đối với 01 (một) đĩa DVD-R Maxell có chứa 02 tập tin dung lượng 12.300KB, 9.720KB do chị Lê Ngọc Thúy U cung cấp và 01 (một) đĩa DVD-R Maxell có chứa 01 tập tin dung lượng 21.852KB do anh Lâm Văn D cung cấp là tài liệu dùng làm chứng cứ của vụ án nên lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2026/HS-ST ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn E phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phan Văn E 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án;
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ chậm thi hành án, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 14/01/2026, bị cáo Phan Văn E kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Phan Văn E1 thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Bản án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định. Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về hình phạt và kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là có phần nghiêm khắc nên kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt của bị cáo có cơ sở chấp nhận; đối với kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo là không phù hợp nên không được chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: chấp nhận một phần kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn E1 từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bị cáo không tranh luận.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo để sớm về nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo kết hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Vào khoảng 05 giờ 10 phút ngày 27/8/2025, Phan Văn E không có giấy phép lái xe theo quy định đã điều khiển xe môtô biển kiểm soát 71Y1 - 0476 lưu thông trên đường Đ theo hướng từ Bệnh viện Đ đến vòng xoay N, khi đến đoạn đường thuộc Khu phố A, phường A, tỉnh Vĩnh Long là đoạn đường có biển báo hiệu đường bộ W.224 “Đường người đi bộ cắt ngang” nhưng Phan Văn E không giảm tốc độ và thiếu chú ý quan sát phía trước, đã để xe mô tô biển kiểm soát 71Y1 - 0476 đụng vào người chị Võ Thị Ngọc T2 đang đi bộ từ lề trái sang lề phải hướng lưu thông của xe do Phan Văn E điều khiển làm chị T2 bị thương nặng, sau đó tử vong tại Bệnh viện Đ do chấn thương sọ não gây vỡ xương hộp sọ, xuất huyết, tụ máu nội sọ và giập nhu mô não.
Về tội danh: Bị cáo là người thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự; khi tham gia giao thông không tuân thủ đúng quy định của luật giao thông đường bộ, điều khiển xe mô tô trong điều kiện không có giấy phép lái xe theo quy định, thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ ở đoạn đường có biển báo hiệu đường bộ W.224 “Đường người đi bộ cắt ngang”, đã để xe mô tô biển kiểm soát 71Y1 - 0476 đụng vào người chị Võ Thị Ngọc T2 đang đi bộ từ lề trái sang lề phải hướng lưu thông của xe do bị cáo điều khiển làm chị T2 bị thương nặng, sau đó tử vong, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của con người, xâm phạm an toàn giao thông đường bộ. Với ý thức, hành vi và hậu quả bị cáo gây ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Phan Văn E phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Không có giấy phép lái xe theo quy định” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Phan Văn E1 yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm khi áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo đã xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng về nhân thân từng bị kết án về tội “cố ý gây thương tích”, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có bà nội là Mẹ Việt Nam Anh hùng, được phía bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo, đã xử phạt bị cáo 02 năm tù;
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội; điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trong điều kiện không có giấy phép lái xe theo quy định, khi tham gia giao thông thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ ở đoạn đường có biển báo hiệu đường bộ W.224 “Đường người đi bộ cắt ngang”, đã gây ra tai nạn giao thông hậu quả làm chết 01 người, bị cáo phạm tội có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng bởi tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của con người, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất an toàn giao thông đường bộ; mặc dù tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết đã bồi thường thêm cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, tuy nhiên xét thấy số tiền này cũng không đủ để bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho phía bị hại. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét về nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Xét thấy quyết định của Bản án sơ thẩm về mức hình phạt cũng như biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo có căn cứ và đúng pháp luật; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không có căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo nên không chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Kiểm sát viên có phần không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Phan Văn E; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 01/2026/HS-ST ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long;
1. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phan Văn E1 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 01/2026/LCĐKNCT ngày 05/01/2026 của Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long.
2. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Phan Văn E phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ chậm thi hành án, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| - Vụ GĐKT I - Tòa án nhân dân tối cao (1b); - VKSND tỉnh Vĩnh Long (1b); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long (1b); - Tòa án nhân dân khu vực 5 – Vĩnh Long (3b); - VKSND khu vực 5 – Vĩnh Long (1b); - Phòng THADS khu vực 5 – Vĩnh Long (1b); - UBND xã Tân Thành Bình, Vĩnh Long (1b); - Bị cáo (1b); - Phòng KTNV & THA, Tòa Hình sự, Văn phòng TAND tỉnh Vĩnh Long (5b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tôn Văn Thông |