vanban.org

Bản án 51/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Lan A phạm tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồ trụy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Lan A 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Lan A - phạm tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (điều 326 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Lan A phạm tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồ trụy”
  • Căn cứ chính? Điều 326 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST
Ngày 09 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lường Thị Thu Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Nhâm và ông Nông Hữu Thái

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Xuân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 04/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

NÔNG LAN A; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 11 tháng 3 năm 2000 tại Bắc Kạn; nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn T và bà Lèng Hương Q (đã chết); Có chồng và 01 con; Tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng thời gian tháng 6 năm 2021, khi Nông Lan A kinh doanh tại Thành phố Hà Nội, đã tạo lập tài khoản ứng dụng Telegram trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max bằng số điện thoại 0865326626. Sau khi lập được tài khoản, Nông Lan A bỏ sim điện thoại này qua một điện thoại khác dùng để liên lạc hàng ngày. Sau đó, Lan A nảy sinh ý định lập nhóm tại ứng dụng Telegram trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max để tuyển cộng tác viên bán hàng. Thực hiện ý định, Lan A lập 01 (Một) nhóm kín trên điện thoại Iphone XS Max có tên “Chợ Đen” (sau đó đổi tên thành “Lan Anh N”, rồi đổi tên thành 03 trái tim “♥♥♥”) và dùng mạng internet đăng tải lên nhóm một số clip liên quan đến việc quan hệ tình dục nam nữ kéo tương tác nhằm để bán hàng dễ dàng hơn. Sau đó, Lan A đã dừng hoạt động một thời gian. Đến khoảng tháng 11 năm 2021, Lan A chuyển về nhà tại tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để bán hàng tại nhà. Thời điểm này, Lan A bắt đầu liên hệ các mối hàng ở Hà Nội để mua các phụ kiện liên quan đến tình dục để bán trên không gian mạng. Do lượng khách tương tác ít, bán hàng chậm nên Lan A tiếp tục truy cập nhóm T1 mà mình đã tạo từ trước trên điện thoại Iphone XS Max để tìm kiếm thêm các thành viên vào nhóm. Lan A dùng mạng internet đăng các video clip (đoạn phim ngắn) liên quan tới quan hệ tình dục nam nữ lên nhóm trên để cho các thành viên trong nhóm xem, bình luận nhằm bán các phụ kiện liên quan đến hoạt động tình dục.

Khoảng 14 giờ ngày 26/9/2024, có khách tại khu vực Trường Cao đẳng N1 thuộc tổ I, phường P, thành phố B đặt 5 hộp bao cao su với tổng số tiền là 330.000 đồng. Sau khi chuẩn bị hàng, Lan A điều khiển xe mô tô từ nhà mang theo hộp giấy bên trong có chứa 5 hộp bao cao su để ship cho khách, khi đến khu vực gần Trường Cao đẳng N1 thuộc tổ I, phường P, thành phố B, Lan A dừng xe chuẩn bị liên hệ với khách thì bị tổ công tác kiểm tra, lập biên bản.

Quá trình kiểm tra điện thoại di động Iphone XS Max của Nông Lan A, Cơ quan điều tra đã phát hiện và tiến hành trích xuất, lưu trữ 40 (Bốn mươi) video clip (đoạn phim ngắn) do tài khoản có tên “ADMIN” của Nông Lan A chia sẻ phát tán lên nhóm “♥♥♥” có nội dung khiêu dâm, quan hệ tình dục để phục vụ quá trình điều tra, cụ thể:

- 31 (Ba mươi mốt) video clip (đoạn phim ngắn) chia sẻ, phát tán vào ngày 25/6/2021.

- 01 (Một) video clip (đoạn phim ngắn) chia sẻ, phát tán vào ngày 26/6/2021.

- 01 (Một) video clip (đoạn phim ngắn) chia sẻ, phát tán vào ngày 21/12/2022.

- 01 (Một) video clip (đoạn phim ngắn) chia sẻ, phát tán vào ngày 19/10/2023.

- 01 (Một) video clip (đoạn phim ngắn) chia sẻ, phát tán vào ngày 22/10/2023.

- 03 (Ba) video clip (đoạn phim ngắn) chia sẻ, phát tán vào ngày 12/3/2024.

- 01 (Một) video clip (đoạn phim ngắn) chia sẻ, phát tán vào ngày 16/4/2024.

- 01 (Một) video clip (đoạn phim ngắn) chia sẻ, phát tán vào ngày 08/9/2024.

Tại Kết luận giám định ngày 11/10/2024 của ông Hoàng Văn S – Giám định viên tư pháp lĩnh vực văn hóa thuộc Sở văn hóa , thể thao và du lịch tỉnh B kết luận: “Trong số 40 (bốn mươi) video clip (đoạn phim ngắn) của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn gửi giám định có 39 (ba mươi chín) video clip (đoạn phim ngắn) có nội dung “khiêu dâm, đồi truỵ”, có 01 (một) video clip (Đoạn phim ngắn) có nội dung phản cảm”.

Tại Kết luận giám định số 548/KL-KTHS ngày 13/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, kết luận:

- 39 (Ba mươi chín) video clip (đoạn phim ngắn) gửi giám định có chứa nội dung“khiêu dâm, đồi truỵ” có tổng thời lượng là 372 phút 14 giây (00:372:14.986), tổng dung lượng là 5,6516 gigabyte (6068399380 bytes).

- 01 (một) đoạn video clip tên “document_6221854513075061430” có chưa hình ảnh phản cảm có thời lượng 0 phút 9 giây (00:00:9:938) dung lượng 0,0008gigabyte (909607 bytes).

Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nông Lan A đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đang mang thai. Quá trình giải quyết vụ án Nông Lan A đã tự nguyện nộp vào Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn số tiền 5.200.000 đ để khắc phục hậu quả.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, mặt lưng màu vàng đồng đã nứt vỡ, màn hình cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng, có số IMEI1 357309095755645, IMEI2 357309095900381, bên trong không gắn thẻ SIM, quá trình điều tra xác định đây là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng vào việc truyền bá các clip có nội dung “Khiêu dâm, đồ truỵ”. Hiện được bảo quản theo quy định.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, mặt lưng màu đen, màn hình cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng, có số IMEI1: 357225098888888; IMEI2: 357225098909809, bên trong gắn SIM số 0865326626; 01 (Một) case (cây) máy tính đã qua sử dụng, trên thân có ghi chữ XIGMATEK XA – 10; 05 (năm) hộp bao cao su chưa qua sử dụng: Đây là tài sản của bị cáo, qua điều tra xác định không liên quan tới hành vi phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra Quyết định trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu là Nông Lan A.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10 5G, màn hình cảm ứng, mặt lưng màu vàng nâu, máy cũ đã qua sử dụng, có số IMEI: 355374101510766, bên trong gắn sim mang số 0374.005.194 là chiếc điện thoại của anh Trần Tuấn A1, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Nông Lan A. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã ra Quyết định trả lại điện thoại trên cho anh Trần Tuấn A1.

Đối với 01 USB chứa chứng cứ của vụ án được lưu theo hồ sơ.

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSTPBK ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố Nông Lan A về tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồ trụy” theo điểm b, g khoản 2 Điều 326 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của mình, thể hiện thái độ ăn năn hối lỗi về việc mình đã gây ra.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Lan A phạm tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồ trụy”.

+ Về hình phạt: Căn cứ điểm b, g khoản 2; khoản 4 Điều 326; điểm n, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nông Lan A 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Đề nghị tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, mặt lưng màu vàng đồng đã nứt vỡ (bên trong không gắn thẻ SIM) của bị cáo Nông Lan A do đây là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Đối với các đồ vật khác không liên quan tới hành vi phạm tội Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra Quyết định trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục giải quyết.

Đối với 01 USB chứa chứng cứ của vụ án được lưu theo hồ sơ.

Đề nghị tạm giữ số tiền 5.200.000 đ bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự, thành phố B để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

- Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó có đủ cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 9 năm 2024, Nông Lan A đã có hành vi sử dụng điện thoại di động thông minh nhãn hiệu Iphone XS Max, thông qua mạng internet, sử dụng tên “ADMIN” chia sẻ 39 (Ba mươi chín) video clip (đoạn phim ngắn) có chứa nội dung “khiêu dâm, đồi truỵ” có tổng thời lượng là 372 phút 14 giây (00:372:14.986), tổng dung lượng là 5,6516 gigabyte (GB) (6068399380 bytes) lên nhóm Telegram tên “♥♥♥” để các thành viên trong nhóm cùng nhau xem và bình luận.

Hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, xâm phạm đến trật tự công cộng, truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc, gây tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của nhân dân. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý.

Như vậy, hành vi của Nông Lan A đủ yếu tố cấu thành tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồ trụy ” quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 326 của Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“Điều 326. Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy

1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, đồi trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm đồi trụy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 01 gigabyte (GB) đến dưới 05 gigabyte (GB);

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

…

b) Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 05 gigabyte (GB) đến dưới 10 gigabyte (GB);

…

g) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;

…

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Từ những căn cứ trên, xét thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố Nông Lan A về tội "Truyền bá văn hóa phẩm đồ trụy” quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 326 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tội phạm của Nông Lan A đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo một mình thực hiện hành vi phạm tội, không có ai tổ chức, xúi giục, giúp sức hoặc cùng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, như vậy vụ án không có đồng phạm.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội và thể hiện thái độ ăn năn hối lỗi về việc mình đã gây ra; bị cáo là phụ nữ có thai. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã tự nguyện nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn một khoản tiền nhằm khắc phục hậu quả. Hành động này cho thấy bị cáo đã nhận thức được hậu quả của hành vi phạm tội của mình và có ý thức phần nào sửa chữa, khắc phục thiệt hại do mình gây ra. Đồng thời, việc phạm tội của bị cáo một phần là do bị cáo là dân tộc thiểu số, nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm n, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về hình phạt chính: Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ. Việc không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, xét thấy việc cho bị cáo hưởng án treo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Trên cơ sở xem xét tính chất hành vi và khả năng thi hành của bị cáo, đối chiếu với quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử tại địa phương, xét thấy cần phạt tiền bị cáo với mức phù hợp để nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng, tài liệu đồ vật thu giữ trong vụ án:

- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, mặt lưng màu vàng đồng đã nứt vỡ (bên trong không gắn thẻ SIM), xác định đây là tài sản của bị cáo Nông Lan A, bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này vào việc phạm tội do đó cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, mặt lưng màu đen, bên trong gắn SIM; 01 (Một) case (cây) máy tính đã qua sử dụng; 05 (năm) hộp bao cao su chưa qua sử dụng: Đây đều là tài sản của bị cáo; Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10 5G, bên trong gắn sim số 0374.005.194 là tài sản của anh Tuấn A1: Các tài sản trên đều không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trả lại chủ sở hữu là có cơ sở, do đó Hội đồng xét xử không tiếp tục giải quyết.

- Đối với 01 USB chứa chứng cứ của vụ án: Lưu theo hồ sơ vụ án.

- Đối với số tiền 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) mà bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn: Xét thấy cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về các vấn đề khác:

- Vì ứng dụng telegram là nền tảng tin nhắn, gọi điện, chia sẻ hình ảnh, âm thanh, video qua mạng internet, nền tảng này được vận hành bởi công ty nước ngoài và không có hiện diện pháp lý tại Việt Nam và không có biện pháp kỹ thuật để khai thác các thông tin, trong đó có thông tin dữ liệu người dùng. Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác định cụ thể thông tin của các thành viên trong nhóm, từ đó không có căn cứ để xác định được chính xác số lượng người xem các video do Lan A đăng lên. Do đó không có cơ sở để xử lý của Nông Lan A theo các khoản định khung về số lượng người xem quy định tại Điều 326 Bộ luật Hình sự.

- Đối với các thành viên khác trong nhóm telegam “♥♥♥”: Không có căn cứ để xác định được thông tin cụ thể của các thành viên khác trong nhóm, không có căn cứ xác định các thành viên khác có hành vi đăng tải video có nội dung khiêu dâm đồ trụy nên không có cơ sở để xử lý, xác định là phù hợp.

Về quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân:

Xét thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

Về án phí:

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Lan A phạm tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồ trụy”

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm b, g khoản 2; khoản 4 Điều 326; điểm n, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nông Lan A 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

- Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 5.000.000 đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước đối với: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, mặt lưng màu vàng đồng đã nứt vỡ, màn hình cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng, bên trong không gắn thẻ SIM.

(Tình trạng, số lượng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/4/2025 giữa Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn).

- Đối với 01 USB chứa chứng cứ của vụ án được lưu theo hồ sơ.

- Tạm giữ số tiền 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) mà bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, theo Biên lai thu tiền số 0000690 ngày 15/5/2025, để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nông Lan A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn;

- Công an tỉnh Bắc Kạn;

- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn;

- Chi cục Thi hành án dân sự TP Bắc Kạn;

- Bị cáo;

- Lưu: VT, hồ sơ.

Lường Thị Thu Hòa

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Nhâm

Nông Hữu Thái

Lường Thị Thu Hòa

Cỡ chữ