- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quốc Nhật mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2025/HS-ST Ngày: 16/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Đoàn Hạnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền
Ông Hoàng Sỹ Lĩnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Quốc N, sinh năm 2001; Tại: Lâm Đồng. Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con Bùi Xuân N1 (Đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1983, nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo Bùi Quốc N bị tạm giam từ ngày 18/12/2024 đến nay; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/12/2024, bị cáo Bùi Quốc N là người sử dụng trái phép chất ma túy đang ở trọ với bạn tại số nhà B đường K, phường A, thành phố Đ, Lâm Đồng thì nhận được tin nhắn qua ứng dụng Zalo từ tài khoản tên “Bôn” (N không biết người sử dụng tài khoản này là ai) đến tài khoản của N tên “B” hỏi mua ma túy số lượng nửa hộp năm loại “ke” và 01 viên loại “kẹo”, bị cáo đồng ý bán và báo giá tiền là 3.800.000đồng (Ba triệu tám trăm ngàn đồng) và được người này hẹn khi nhận được ma túy sẽ trả tiền, đồng thời gửi vị trí để giao ma túy.
Sau đó Bùi Quốc N sử dụng ứng dụng T được N đăng ký tài khoản bằng số điện thoại 0977651674 nhắn tin đến tài khoản tên “Zozo” hỏi mua ma túy số lượng nửa hộp năm loại “ke” và 01 viên loại “kẹo” và cả hai thống nhất với giá 2.300.000đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng), sau khi thỏa thuận thì N gửi vị trí định vị tại cổng chùa B1 thuộc phường A, thành phố Đ cho người này để giao ma túy rồi đi đến địa điểm trên đợi. Khoảng 15 phút sau, có một người liên hệ giao hàng, bị cáo biết là giao ma túy nên khi nhận gói hàng thì N đưa người này số tiền 2.300.000đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng) rồi xóa toàn bộ nội dung liên lạc với người bán ma túy trong điện thoại của mình và cầm gói hàng về phòng trọ. Tại phòng trọ, Bùi Quốc N mở gói hàng kiểm tra thấy bên trong có 01 túi nylon chứa ma túy loại “ke”, 01 viên ma túy loại “kẹo” và nửa viên ma túy loại “kẹo” (Nửa viên này được người bán cho thêm). Lúc này N lấy giấy vệ sinh bọc gói nylon bên trong có chứa ma túy loại “Ke” và loại “kẹo” vừa mua được rồi cầm ở lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Excirter BKS, 49P1 – 9212, màu xanh đi từ Đ đến xã T mục đích bán số ma túy trên cho người có tài khoản zalo tên “Bôn” đã liên lạc hỏi mua ma túy của bị cáo.
Trên đường đi đến thôn P, xã H, huyện Đ thì Bùi Quốc N dừng lại và lấy nửa viên ma túy loại “kẹo” và một ít ma túy loại “ke” đang cầm trên tay ra sử dụng, số còn lại được gói lại như cũ và cầm ở tay, N tiếp tục điều khiển xe mô tô đi theo định vị đến đoạn đường trước nhà nghỉ T5 thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng rồi sử dụng điện thoại của mình gọi cho người sử dụng số tài khoản tên “Bôn” báo đến điểm hẹn giao ma túy, sau khi gọi thì N xóa toàn bộ nội dung liên lạc với người này và trong lúc đứng đợi để giao ma túy thì lực lượng Công an xã T phối hợp với Công an huyện L tuần tra bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn xã T phát hiện bắt quả tang trong tay phải của N có 01 gói giấy, bên trong có 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu cam được N khai là ma túy, loại Ketamine và “thuốc lắc”.
Thu giữ tang vật: 01 (một) gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng và 01 (một) viên nén màu cam được niêm phong; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, màu đen gắn sim số 0961870195; 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Excirter, biển kiểm soát 49P1 – 9212, màu xanh.
Ngày 19/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu giám định đối với 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu cam. Tại Bản kết luận giám định số 1420/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,4566g (một phẩy bốn năm sáu sáu gam), loại Ketamine; Mẫu một viên nén (M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4624g (không phẩy bốn sáu hai bốn gam), loại MDMA.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố Bùi Quốc N ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Quốc N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Bùi Quốc N từ 03 năm tù đến 04 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng ma túy; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax, màu đen thu giữ của bị cáo N.
Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Excirter, biển kiểm soát 49P1 – 9212, màu xanh, do chưa xác định được nguồn gốc xe nên giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiếp tục tạm giữ xác minh làm rõ, xử lý sau.
Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Quốc N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Ngày 18/12/2024 bị cáo Bùi Quốc N đã mua ma túy của một đối tượng chưa rõ nhân thân lai lịch có tài khoản tên “Z” để bán lại cho người khác kiếm lời. Sau khi thống nhất việc mua bán, địa điểm giao nhận hàng thì vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, tại đoạn đường tỉnh lộ 725 thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Bùi Quốc N cất giấu 01 gói giấy bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy, khối lượng 1,4566g (một phẩy bốn năm sáu sáu gam), loại Ketamine và một viên nén màu cam là ma túy, khối lượng 0,4624g (không phẩy bốn sáu hai bốn gam), loại MDMA đang đứng đợi giao ma túy cho người mua ma túy để kiếm lời thì bị bắt quả tang. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Quốc N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tác động xấu đến tình hình an nình trật tự tại địa phương. Ma túy là loại độc dược, có nhiều tác hại đối với người sử dụng và còn là nguyên nhân gây ra những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác. Đồng thời, cũng là nguyên nhân nảy sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Chính vì vậy nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy lẽ ra bị cáo phải ý thức được tác hại nặng nề của ma túy đối với xã hội nhưng ngược lại bị cáo lại còn mua ma túy về bán kiếm lời. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo thật nghiêm khắc.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Vì vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo biết sống tuân thủ pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 ngoài hình phạt chính ra bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Xử lý vật chứng: Tang vật của vụ án do Cơ quan điều tra thu giữ bàn giao sang Chi cục thi hành án là hai phong bì niêm phong đựng ma túy nhà nước cấm lưu hành tuyên tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax, màu đen gắn sim số 0961870195 do bị cáo sử dụng liên lạc mua bán ma túy.
Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Excirter, biển kiểm soát 49P1 – 9212, màu xanh đứng tên đăng ký chủ xe là chị Nguyễn Thị Thạch T1. Quá trình điều tra chị T1 khai đã bán xe này vào năm 2019 và không xác định được người mua. Còn bị cáo khai xe này do N mua năm 2022 tại một tiệm sửa xe, hiện không xác định được địa chỉ và người bán xe, lúc mua không làm giấy tờ mua bán xe. Do chưa xác định được nguồn gốc xe mô tô nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiếp tục tạm giữ xác minh làm rõ, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Quốc N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Quốc N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2024.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong có chữ kí ghi họ tên “Võ Như T2", “Lại Thanh Anh T3”, “Võ Chiến T4", số "1" và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L" (bên ngoài được dán băng keo trong), đựng bao gói vật chứng gửi giám định: một phong bì bưu điện chứa một gói giấy vệ sinh gói một vỏ gói nylon;
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong có chữ kí ghi họ tên “Võ Như T2”, “Lại Thanh Anh T3”, “Võ Chiến T4”, số “2” và hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L" (bên ngoài được dán băng keo trong), đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: M1: 1,1555g;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 promax, màu đen gắn sim số 0961870195 được niêm phong trong phong bì, bên ngoài có chữ ký của “Nguyễn Duy N2”, “Bùi Quốc N” và dấu tròn đỏ của Công an xã T, huyện L;
(Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Quốc N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/4/2025) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKS, CA huyện Lâm Hà; - Chi cục THADS huyện Lâm Hà; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu HS - BP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trịnh Đoàn Hạnh Trang |