- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con - Nguyễn Thị A - Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28 – 4 – 2025 V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Khon.
2. Ông Nguyễn Hoàng Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trà My - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11, 28 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Nguyễn Thị A vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt; anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 04/02/2025, biên bản lấy lời khai, biên bản phiên họp – hòa giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị A trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn T được mai mối và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2008 mà không có thời gian tìm hiểu lẫn nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 18/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới thì chị A và anh T sống tại nhà cha mẹ anh T tại ấp T, xã T, huyện T. Anh T thường xuyên chơi bời gây nợ nần, uống rượu nên cuối năm 2009 thì chị A mang con về nhà cha mẹ ruột tại ấp H, xã T, huyện T. Đến khoảng năm 2011, anh T và gia đình anh T năn nỉ nên chị A mang con về nhà cha mẹ anh T sinh sống. Nhưng khi sống chung lại thì anh T vẫn chơi bời gây nợ nần, uống rượu nên được khoảng 01 năm, đến năm 2012 thì chị A tiếp tục mang con về nhà cha mẹ chị A. Từ năm 2012 đến đầu năm 2020 thì chị A và anh T sống ly thân. Đầu năm 2020, do anh T năn nỉ và chưa quen biết người khác, hứa thay đổi nên chị A quay trở sống chung với anh T và có đăng ký kết hôn, cất nhà riêng trên đất cha mẹ anh T cho. Nhưng anh T vẫn chơi bời, gây nợ nần, lấy tài sản trong gia đình bán để trả nợ nên vào năm 2022 thì chị A lại mang con về nhà chị An sinh S, anh T có về sống chung với nhà cha mẹ chị A. Đến tháng 10/2024, anh T vẫn cứ gây nợ nần, chị A nói muốn ly hôn thì anh T không sống tại nhà cha mẹ chị A nữa mà về sống bên nhà riêng đã cất trước đây. Từ tháng 10/2024 đến nay thì anh T không có đi tìm chị A, nhưng có gọi điện thoại để hàn gắn nhưng chị A không đồng ý. Gia đình hai bên cũng không có hàn gắn cho chị A và anh T. Nay chị A không còn tình cảm với anh T, nên chị A yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị A ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị A yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 03/3/2009 và không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn T: Anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa hòa giải 02 lần, thông báo về việc yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh T vắng mặt không có lý do, không cung cấp văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị A, cũng không tham dự phiên họp – hòa giải 02 lần và phiên tòa 02 lần nên Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh T đối với yêu cầu khởi kiện của chị A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị A. Về hôn nhân: Chị A được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 03/3/2009 cho chị A được quyền trực tiếp nuôi, anh T không phải cấp dưỡng cho con do chị A không có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị A và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Bị đơn anh Nguyễn Văn T cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị A được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có cung cấp ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị A, anh T theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T; anh T không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu của chị A.
Xét thấy, hôn nhân giữa chị A và anh T được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị cưỡng ép hoặc lừa dối; anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên là hôn nhân hợp pháp. Chị A xác định trong quá trình chung sống từ năm 2008 đến tháng 10/2024 thì chị A và anh T đã nhiều lần ly thân, tuy có hàn gắn được nhưng vẫn tiếp tục xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân do anh T gây nợ nần cho gia đình. Đến tháng 10/2024, anh T bỏ về nhà riêng, còn chị A vẫn sống bên nhà cha mẹ chị A nên anh chị sống ly thân đến nay mà không hàn gắn được. Nay chị A không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu ly hôn với anh T.
Khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.
Từ trình bày của chị A cho thấy chị A và anh T đã không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng về việc thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị A và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Do đó, chị Nguyễn Thị A yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T là phù hợp theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được chấp nhận.
Về con chung:
Chị A xác định chị A và anh T có con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 03/3/2009. Khi ly hôn, chị A yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu T1 và chị A không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Anh T không cung cấp cho Tòa án ý kiến, yêu cầu đối với con chung.
Xét thấy, chị A đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 từ khi chị A và anh T ly thân đến nay, chị A đã làm tròn nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 và cho cháu T1 đi học. Mặt khác, cháu T1 đã trên 07 tuổi, có văn bản ghi nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung với chị A.
Khoản 1, 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu T1 như đã phân tích, đồng thời xem xét nguyện vọng của cháu T1, xét thấy không cần thiết làm thay đổi hoàn cảnh sống ổn định của cháu T1, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trực tiếp nuôi cháu T1 của chị A, là phù hợp theo quy định của pháp luật; anh T không phải cấp dưỡng cho cháu T1 do chị A không có yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Nguyễn Văn T không có ý kiến, yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị A.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Văn T1, sinh ngày 03/3/2009 cho chị Nguyễn Thị A được quyền trực tiếp nuôi. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Văn T1 do chị Nguyễn Thị A không có yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Nguyễn Văn T không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị A có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh Nguyễn Văn T.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn T không có yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị A phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0005231 ngày 04/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình. Như vậy, chị A đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - CC THA DS huyện Thanh Bình; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã Tân Huề (Đăng ký kết hôn số 64, ngày 18/8/2020); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Thùy Trang |