- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L bị xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 28 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Dũng
Ông Trần Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ
Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở UBND phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành
Sơn, Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST- HS ngày 17/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh ngày 03/12/1996 tại Quảng Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu
thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Hà Thị G, sống như vợ chồng với chị Tiết Thanh N và có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/3/2024. Có mặt.
* Người có quyền L và nghĩa vụ liên quan:
1/ Chị Phan Thị Xuân N, sinh năm 2003; Trú tại:đường K, phường K, quận N, thành
phố Đà Nẵng.Vắng mặt.
2/ Chị Phan Thị Kiều A, sinh năm 2004; Trú tại: đường K, phường K, quận N, thành
phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
3/ Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1967; Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng
Nam.Vắng mặt.
4/ Anh Trần Đình Quốc K, sinh năm 1994; Trú tại: đường P, phường P, quận S,
thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào chiều tối ngày 07/3/2024, Nguyễn Văn L đi từ Quảng Nam đến phòng xx căn
hộ tại địa chỉ số đường K, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng của bạn gái là chị Phạm Thị Xuân N để chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi N đi làm, L liên lạc với một thanh niên tên “Vỹ” (không rõ lai lịch) thông qua tài khoản Telegram trên điện thoại của mình hỏi mua 06 viên thuốc lắc và 02 gói Ketamine với giá 2.700.000đ và hẹn giao dịch tại khu vực trước quán karaoke V, đường V, phường M, quận Ngũ Hành Sơn.
Sau khi mua số ma túy trên thì L mang về phòng 303 căn hộ và lấy 01 viên thuốc
lắc ra sử dụng một mình rồi đi ngủ. Số ma túy còn lại L cất giấu phía sau gương treo tường bên cạnh giường ngủ.
Đến khoảng 14 giờ ngày 08/3/2024, có một nam thanh niên không rõ lai lịch sử
dụng số điện thoại 0934.832.66x gọi đến số điện thoại 0932.599.33x của L để hỏi mua 05 viên thuốc lắc và 01 gói Ketamine. L đồng ý bán với giá 4.200.000đ và hẹn giao dịch tại ngã ba đường L - K bên cạnh nhà nghỉ T, phường K, quận Ngũ Hành Sơn. Sau đó, L lấy 05 viên thuốc lắc và 01 gói Ketamine bọc vào túi màu đen, cất vào túi quần bên phải và điều khiển xe mô tô BKS 92E1-408.4x đến địa điểm đã hẹn tại khu vực trước số nhà xx đường L, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn. Khi đến nơi, L bọc số ma túy trong khẩu trang y tế và đặt dưới gốc trụ điện bên cạnh vị trí đứng rồi điện thoại lại cho người mua.
Trong lúc Nguyễn Văn L đang đứng đợi người mua ma túy đến để bán thì bị Cơ quan
Cảnh sát Điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng phát hiện, bắt quả tang.
* Tang vật thu giữ của L:
- 01 gói nilon màu đen bên trong chứa 01 gói tinh thể rắn màu trắng và 05 viên nén
(04 viên màu vàng và 01 viên nén hình vuông bị vỡ) được cuộn trong khẩu trang màu trắng thu giữ dưới gốc cây trụ điện cạnh vị trí L đứng. Niêm phong, ký hiệu L1;
- 01 điện thoại di động Iphone, màu đen gắn sim 0932.599.33x. Niêm phong, ký hiệu
L3;
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu đen đỏ BKS 92E1-408.4x.
* Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Ngũ Hành
Sơn tiến hành khám xét nơi lưu trú của L tại số đường K, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng. Thu giữ: 01 gói nilon bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng đặt ở phía sau gương treo tường (Niêm phong, ký hiệu L2).
* Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Nguyễn Văn L cho kết quả dương tính với ma
túy và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể chị Phạm Thị Xuân N cho kết quả âm tính với ma túy.
Theo Kết luận giám định số 206/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng Kỹ thuật
Hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:
+ Mẫu viên nén màu vàng ký hiệu L1a gửi giám định là ma túy loại
Methamphetamine, khối lượng mẫu L1a: 1,792 gam.
+ Mẫu viên nén bị vỡ ký hiệu L1b gửi giám định là ma túy loại MDMA. khối lượng
mẫu L1b: 0,433 gam.
+ Tinh thể màu trắng trong các gói ni lông ký hiệu L1c và L2 gửi giám định là ma
túy loại Ketamine, khối lượng mẫu L1c: 1,388 gam, mẫu L2: 0,420 gam.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT –VKS - NHS ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm
sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy các bì thư niêm phong chứa mẫu hoàn trả sau giám định; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu đen gắn sim 0932.599.33x thu giữ của Nguyễn Văn L; Trả lại cho ông Nguyễn Văn L 01 xe mô tô BKS 92E1-408.4x.
Bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận vào khoảng 22 giờ ngày 07/3/2024 bị cáo có dùng
mạng xã hội liên hệ mua của đổi tượng tên Vỹ không xác định lai lịch 06 viên thuốc lắc và 02 gói Ketamine với giá 2.700.000đ mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời. Sau khi có ma túy, bị cáo sử dụng 01 viên thuốc lắc, đến 14 giờ ngày 08/3/2024, có một nam thanh niên không rõ lai lịch gọi đến để hỏi mua 05 viên thuốc lắc và 01 gói Ketamine với giá 4.200.000đ khi L đang mang ma túy chuẩn bị bán thì bị bắt quả tang, thu giữ 1,792 gam ma túy loại Methamphetamine, 0,433 gam ma túy loại MDMA và 1,388 gam ma túy loại Ketamine. Số ma túy còn lại bị cáo cất giữ tại phòng 303 căn hộ tại địa chỉ số 50 đường Khuê Mỹ Đông 7 là 0,420 gam loại Ketamine. Do đó, bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng tội, bị cáo không có ý kiến gì về tội danh cũng như thủ tục tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Những người có quyền L và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng đã có lời khai
tại hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị cáo và diễn biến tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm
sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì, tại phiên toà bị cáo cũng không có ý kiến gì về hành vi, thủ tục tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa
phù hợp với lời khai của những người có quyền L và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định Cáo trạng số 57/CT –VKS-NHS ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính
sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Do đó đối với bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đồng thời làm gương cho người khác.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, từng có
thời gian phục vụ trong quân đội, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, bà nội bị cáo là người có công cách mạng và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Đối với những người có quyền L và nghĩa vụ liên quan và vấn đề liên quan
trong vụ án:
Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy, Nguyễn Văn L còn có hành vi
sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó Công an quận Ngũ Hành Sơn đã ra Quyết định xử phạt hành chính là phù hợp. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Đối với anh Trần Đình Quốc K là người thuê lại căn hộ số đường K, phường
K, quận N, thành phố Đà Nẵng để kinh doanh lưu trú. Trong đó anh K cho chị Phan Thị Kiều A và Phạm Thị Xuân N thuê phòng xx để ở. Bị cáo là bạn của chị N đến chơi, ở nhờ và sử dụng địa điểm này để cất giấu ma túy trong vụ án. Tuy nhiên cả anh K, chị A, chị N đều không biết việc phạm tội của bị cáo. Do đó, Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Nguyễn Văn L là cha bị cáo có cho bị cáo mượn xe mô tô hiệu
Honda Vision BKS 92E1-408.4x để làm phương tiện đi lại, ông L không biết trước việc phạm tội của bị cáo. Do đó Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không đề cập trách nhiệm là phù hợp, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số thuê bao 0934.832.66x qua tra cứu đứng tên bà Lê Nguyễn Hoa H
tại tỉnh Phú Yên. Tuy nhiên kết quả xác minh thể hiện bà H không đăng ký số thuê bao này và cũng không sử dụng số điện thoại nói trên. Hiện không biết ai là người đang sử dụng số điện thoại này, do đó Cơ quan Điều tra Viện kiểm sát không đề cập, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với đối tượng tên Vỹ hiện không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan
điều tra tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với các vật chứng là 02 bì thư trắng niêm phong kín là mẫu giám định
hoàn trả gồm bì ký hiệu L1, bì ký hiệu L2 là mẫu ma túy, bao vỏ hoàn trả sau giám định xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, sim số
0932.599.33x là phương tiện bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với vật chứng là xe mô tô hiệu Honda Vision BKS 92E1-408.4x là tài sản
của ông Nguyễn Văn L cho bị cáo mượn để đi lại, ông L không biết bị cáo sử dụng phương tiện vào việc phạm tội nên cần xử lý trả lại cho ông L là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1/ Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình
sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn L 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày 08/3/2024.
2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng
hình sự;
* Tịch thu tiêu hủy 02 bì thư trắng niêm phong kín là mẫu giám định hoàn trả gồm
bì ký hiệu L1, bì ký hiệu L2.
* Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen,
sim số 0932.599.331 thu giữ của Nguyễn Văn L. Niêm phong ký hiệu L3.
* Trả lại cho ông Nguyễn Văn L 01 xe mô tô hiệu Honda Vision BKS 92E1-408.44;
Số khung: 5818GY469443; Số máy: JF66E0771284, dung tích 108cm3.
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành
Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn và Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn).
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết
có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng người có quyền L và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận Ngũ Hành Sơn;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà
- VKSND TP Đà Nẵng;
- TAND TP Đà Nẵng;
- CQCSĐT CA quận Ngũ Hành Sơn;
(đã ký)
- Trại tạm giam Công an Tp Đà Nẵng;
- THA dân sự quận Ngũ Hành Sơn;
- Những người tham gia tố tụng;
Đoàn Công Quốc
- Lưu hồ sơ.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận Ngũ Hành Sơn;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà
- VKSND TP Đà Nẵng;
- TAND TP Đà Nẵng;
- CQCSĐT CA quận Ngũ Hành Sơn;
- Trại tạm giam Công an Tp Đà Nẵng;
- THA dân sự quận Ngũ Hành Sơn;
- Những người tham gia tố tụng;
Đoàn Công Quốc
- Lưu hồ sơ.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận Ngũ Hành Sơn;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà
- VKSND TP Đà Nẵng;
- TAND TP Đà Nẵng;
- CQCSĐT CA quận Ngũ Hành Sơn;
- Trại tạm giam Công an Tp Đà Nẵng;
- THA dân sự quận Ngũ Hành Sơn;
- Những người tham gia tố tụng;
Đoàn Công Quốc
- Lưu hồ sơ.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận Ngũ Hành Sơn;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà
- VKSND TP Đà Nẵng;
- TAND TP Đà Nẵng;
- CQCSĐT CA quận Ngũ Hành Sơn;
- Trại tạm giam Công an Tp Đà Nẵng;
- THA dân sự quận Ngũ Hành Sơn;
- Những người tham gia tố tụng;
Đoàn Công Quốc
- Lưu hồ sơ.
| Nơi nhận: - VKSND quận Ngũ Hành Sơn; - VKSND TP Đà Nẵng; - TAND TP Đà Nẵng; - CQCSĐT CA quận Ngũ Hành Sơn; - Nhà tạm giữ Công an quận NHS; - THA dân sự quận Ngũ Hành Sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Đoàn Công Quốc |