- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 26-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1, Bà Hà Thị Thúy;
2, Ông Vũ Lương Trung Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/ QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với:
1, Bị cáo: Nguyễn Mạnh Q; tên gọi khác: không; sinh ngày: 26/6/1986 tại huyện H, tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Thôn B, xã S, huyện V, Yên Bái; tạm trú tại: Tổ dân phố P, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 02/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Xuân M, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957; có vợ là Phạm Thị T1, sinh năm 1989 và có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/10/2024, tạm giam từ ngày 24/10/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V.
2, Người có quyền lợi liên quan đồng thời là người làm chứng: Ông Hà Văn Đ, sinh năm 1966; trú tại: Tổ dân phố V, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
3, Người chứng kiến: Ông Vũ Ngọc T2, sinh năm 1969; trú tại: Tổ dân phố P, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mạnh Q là người nghiện ma túy. Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 10 năm 2024 đến ngày 22/10/2024, Q đi mua Heroine về cất giấu tại nơi ở, với mục đích vừa để sử dụng và vừa để bán lại cho những người nghiện khác. Cụ thể Nguyễn Mạnh Q đã 02 lần bán Heroine cho Hà Văn Đ như sau:
- Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/10/2024, sau khi liên lạc qua điện thoại tại cổng xóm trọ nơi Q tạm trú thuộc tổ dân phố P, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái, Nguyễn Mạnh Q bán cho Hà Văn Đ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, Đ cất gói Heroine vào túi quần, chưa kịp đi về thì bị bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần phía sau bên phải Q đang mặc tổng số tiền 1.700.000 đồng; tại túi quần bên trái của Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh màn hình cảm ứng. Thu giữ tại túi quần bên phải của Đ 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (Nghi là H) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh bàn phím bấm.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Mạnh Q, Cơ quan điều tra thu giữ trong phòng Q đang ở 01 chiếc túi xách giả da màu đen, khóa màu vàng, bên trong túi có 08 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, trong các gói giấy đều có chứa chất bột nén màu trắng (Nghi là Heroine).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh Q còn tự khai nhận vào một buổi sáng cách ngày Q bị bắt quả tang khoảng 01 tuần, Đ điện thoại cho Q hỏi mua Heroine để sử dụng, Q nhất trí và bảo Đ đến cổng xóm trọ, nơi Q đang ở, thuộc tổ dân phố P, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Tại đây Q đã bán cho Đ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Số Heroine trên Đ đã một mình sử dụng hết.
Tại Bản kết luận giám định số: 661/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: “Toàn bộ số tiền 1.700.000 đồng gửi giám định đều là tiền thật”.
Tại Bản kết luận giám định số: 662/KL-KTHS ngày 28/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:
“1- Chất bột nén màu trắng thu giữ của Hà Văn Đ có khối lượng 0,05 gam (Không phẩy không năm gam), là ma túy; loại Heroine.
2 - Chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Mạnh Q có tổng khối lượng 0,46 gam (Không phẩy bốn mươi sáu gam).
- 0,1 gam trích từ 0,46 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Heroine (H1) có tên khoa học là: Diacettylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất”.
* Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Bản kết luận giám định nêu trên.
- Cáo trạng số: 50/CT-VKS-VC ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, truy tố Nguyễn Mạnh Q về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
* Bị cáo không khiếu nại Cáo trạng và quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q khai nhận rõ ràng, đầy đủ về hành vi phạm tội của mình và vật chứng cũng như tài sản tạm giữ.
Trong quá trình điều tra Hà Văn Đ khai nhận số lần, số tiền mua Heroine của Nguyễn Mạnh Q để sử dụng trái phép như lời khai của bị cáo nêu trên.
- Kiểm sát viên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Q từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án và tài sản tạm giữ: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án và tài sản tạm giữ.
+ Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị buộc bị cáo Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Bị cáo không có tranh luận gì.
- Bị cáo nói lời sau: Đề nghị HĐXX xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Mạnh Q tại phiên tòa phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và Kết luận giám định ma túy; Phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đã có cơ sở kết luận:
Bị cáo Nguyễn Mạnh Q là người nghiện chất ma túy, với động cơ vụ lợi, mục đích kiếm lời bất chính nên bị cáo đã mua chất ma túy, loại Heroine về để sử dụng và hai lần bán ma túy cho Hà Văn Đ, cụ thể:
Ngày 22/10/2024, tại tổ dân phố P, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Nguyễn Mạnh Q bán cho Hà Văn Đ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Q tự khai trước đó khoảng 01 tuần, cũng tại tổ dân phố P, thị trấn S. Quỳnh bán cho Đ 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Kiểm tra nơi ở thu giữ của Q 0,46 gam Heroine Quỳnh cất giấu mục đích sử dụng và bán.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Mạnh Q phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại các điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Mạnh Q là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm rất lớn cho xã hội, gây mất trật tự trị an và an toàn tại địa phương. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác, do đó cần phải đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị bắt bị cáo đã tự thú hành vi một lần bán ma túy cho Đ trước đó Cơ quan điều tra chưa phát hiện; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự thú” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Mạnh Q tuy không có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện chất ma tuý. Như vậy bị cáo là người có nhân thân xấu.
Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù với mức hình phạt thỏa đáng để cải tạo bị cáo, đồng thời để răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh của Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã cho thấy bị cáo Nguyễn Mạnh Q nghề nghiệp lao động tự do, không có tài sản riêng và là người nghiện ma túy. Vì vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các vấn đề khác:
- Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
+ Cơ quan Điều tra đã thu giữ 0,05 gam Heroine của Hà Văn Đ, Cơ quan giám định đã lấy làm mẫu giám định, không hoàn lại; 0,46 gam (Không phẩy bốn mươi sáu gam) Heroine thu giữ của Nguyễn Mạnh Q, đã lấy 0,1 gam mẫu giám định không hoàn lại còn 0,36 gam Heroine đã niêm phong; 03 vỏ phong bì đã mở niêm phong + Giấy gói; 01 túi xách giả da màu đen, khóa màu vàng, túi cũ đã qua sử dụng bị cáo không yêu cầu nhận lại, là vật chứng của vụ án và đồ vật liên quan, đến nay không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, màn hình cảm ứng, bên trong có gắn 01 thẻ sim bị cáo liên lạc để mua bán ma túy với Hà Văn Đ cần tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh bàn phím bấm, bên trong có gắn 01 thẻ sim Hà Văn Đ liên lạc để mua bán ma túy với bị cáo Q, cần tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước.
+ Số tiền 1.700.000 đồng tiền Việt Nam thu giữ của bị cáo Q, trong đó có 200.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Hà Văn Đ cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, số tiền còn lại 1.500.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo Q.
+ Bị cáo Q đã bán ma túy cho Hà Văn Đ lần thứ nhất thu được số tiền 200.000 đồng, bị cáo đã chi tiêu hết, đây là tiền do phạm tội mà có cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Q khai mua ma túy để sử dụng và bán tại khu vực tổ dân phố S, thị trấn S, huyện V, của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý đối với người này.
- Đối với với Hà Văn Đ là người đã mua Heroine của Q để sử dụng, Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Đ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Mạnh Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Q phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Q 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ là ngày 22-10-2024.
3. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong vật chứng do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành bên trong có 0,36 gam Heroine; 03 (ba) vỏ phong bì đã mở niêm phong + các mảnh giấy gói; 01 túi xách giả da màu đen, khóa màu vàng, túi cũ đã qua sử dụng.
- Tịch thu của Nguyễn Mạnh Q 01 điện thoại OPPO màu xanh, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 866155067672472, số IMEI 2: 866155067672464 bên trong có gắn 01 thẻ sim có số thuê bao 0347125928 và số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Truy thu của Nguyễn Mạnh Q 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu của Hà Văn Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu xanh bàn phím bấm, có số IMEI: 860224074825162, 860224074825170 bên trong có gắn một thẻ sim có số thuê bao 0387091694 để nộp ngân sách Nhà nước.
- Trả lại cho Nguyễn Mạnh Q số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).
Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Mạnh Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Bị cáo Nguyễn Mạnh Q có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 26-12-2024.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hà Văn Đ có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Văn Chấn; - Công an huyện Văn Chấn; - Trại tạm giữ Công an huyện Văn Chấn; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Thi hành án hình sự; - Thi hành án dân sự; - Sở Tư pháp; - Chi cục thuế huyện Văn Chấn; - Chi cục hải quan tỉnh Yên Bái; - UBND xã Suối Bu (TB); - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trần Thành Long |